Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 10 - Đề số 12
I. ĐỌC HIỂU
Đọc hiểu văn bản và trả lời những câu hỏi phía dưới:
Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát. Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối. Các nhà đã đóng im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng. Trẻ con tụ họp nhau ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ, khiến An thèm muốn nhập bọn với chúng để nô đùa, nhưng sợ trái lời mẹ dặn phải coi hàng, nên hai chị em đành ngồi yên trên chỏng, đưa mắt theo dơi những bóng người về muộn, từ từ đi trong đêm.
Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là trên mặt đất hay leo vào cành cây. An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông. Vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ và làm mỏi trí nghĩ, nên chỉ một lát hai chị em lại chúi nhìn về mặt đất, về quầng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên chõng hàng của chị Tí. Về phía huyện, một chấm lửa khác nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi, rồi lại hiện ra... An chỏ tay bảo chị:
- Kìa, hàng phở của bác Siêu đã đến kia rồi.
Tiếng đòn gánh kĩu kịt nghe rõ rệt, khói theo gió tạt lại chỗ hai chị em: bác Siêu đã tới gần, đặt gánh phở xuống đường. Bác cúi xuống, nhóm lại lửa, thổi vào cái nứa con. Bóng bác mênh mang ngả xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngơ. An và Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị em không bao giờ mua được. Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chỉ được hưởng những thức quà ngon, lạ - bấy giờ mẹ Liên nhiều tiền - được đi chơi bờ hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ. Ngoài ra, kỷ niệm nhớ lại không rõ rệt gì, chỉ là một vùng sáng rực và lấp lánh. Hà Nội nhiều đèn quá! Từ khi nhà Liên dọn về đây, từ khi có cái cửa hàng này, đêm nào Liên và em cũng phải ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc bàng với cái tối của quang cảnh phố chung quanh.Đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa. Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa. Giờ chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí, và cái bếp lửa của bác Siêu chiếu sáng một vùng đất cát; trong cửa hàng, ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa. Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Thêm được một gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách nghe.
Chị Tí phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng, chậm rãi nói:
- Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?
Chị muốn nói mấy chú lính trong huyện, mấy người nhà của cụ thừa, cụ lục là những khách hàng quen của chị. Bác Siêu đáp vẩn vơ.
- Hôm nay trong ông giáo cũng có tổ tôm. Dễ họ không phải đi gọi đâu.
Vợ chồng bác xẩm góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng. Thằng con bò ra đất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường. Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.
**
An và Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt. Tuy vậy hai chị em vẫn cố gượng để thức khuya chút nữa, trước khi vào hàng đóng cửa đi ngủ. Mẹ vẫn dặn phải thức đến khi tàu xuống - đường sắt đi ngang qua ngay trước mặt phố để bán hàng, may ra còn có một vài người mua. Nhưng cũng như mọi đêm, Liên không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại đêm họ chỉ mua bao diêm, hai gói thuốc là cùng. Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn chuyến tàu. Chín giờ có chuyến tàu ở Hà Nội đi qua huyện. Đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mí mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:
- Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé.
- Ừ, em cứ ngủ đi.
Liên khẽ quạt cho An, vuốt lại mái tóc tơ. Đầu em bé nặng dần trên người Liên; chị ngồi yên không động đậy. Qua khe lá của cành bàng ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu.
Trích Hai đứa trẻ - Thạch Lam
Xác định ngôi kể của văn bản
Căn cứ vào người kể chuyện, cách gọi tên nhân vật và điểm nhìn trần thuật để xác định ngôi kể.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Khung cảnh đêm về nơi phố huyện được tái hiện như thế nào?
Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết về không gian, ánh sáng, âm thanh, hoạt động của con người và sử dụng những chi tiết tiêu biểu để khái quát bức tranh phố huyện.
Khung cảnh về đêm của phố huyện hiện lên với tất cả sự tăm tối, buồn tẻ với hình ảnh bóng tối bao trùm các con ngõ.
Vì sao chị em Liên và An trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam đêm nào cũng cố thức để được nhìn chuyến tàu qua? Để thể hiện tâm trạng ấy, Thạch Lam muốn nói gì với người đọc? Dòng nào sau đây là nhận định chưa chuẩn xác?
Kết hợp chi tiết trực tiếp trong văn bản với việc phân tích tâm trạng nhân vật và ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh đoàn tàu.
Chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua là chính là vì khao khát thoát khỏi cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang sống. Chuyến tàu đêm là một hình ảnh cụ thể của một thế giới khác: “một cái gì tươi sáng” mà Liên và An chờ đợi.
Em có nhận xét gì về những chi tiết ánh sáng xuất hiện trong tác phẩm?
Liệt kê các chi tiết ánh sáng tiêu biểu, phân tích đặc điểm và sự tương phản giữa ánh sáng với bóng tối, từ đó nhận xét ý nghĩa nghệ thuật và tư tưởng.
Những chi tiết ánh sáng xuất hiện trong tác phẩm là:
- Ánh sáng hắt ra từ ô cửa sổ của những nhà trên phố
- Ánh sáng tỏa ra từ ngọn đèn của chị Tí
- Ánh sáng của con đom đóm.
=> Thủ pháp lấy sáng tả tối, ánh sáng gợi ra những kiếp người nhỏ bé, lay lắt trong phố huyện.
- Ánh sáng của đoàn tàu: Thể hiện ước mơ, hi vọng của những người dân nơi phố huyện. Ánh sáng của đoàn tàu là điều gì đó mà tất cả những con người nơi phố huyện chờ đợi, nó khác hẳn với cái sự tẻ nhạt, tăm tối nơi phố huyện.
Em có ấn tượng với chi tiết nghệ thuật nào trong bài? Vì sao?
Lựa chọn một chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, nêu ấn tượng cá nhân và lí giải dựa trên ý nghĩa nội dung, giá trị nghệ thuật, chủ đề của tác phẩm.
Truyện có nhiều nhân vật và chi tiết gợi ấn tượng sâu sắc. Có thể chọn:
- Một trong các nhân vật: chị Tí, Liên, An, bác Siêu, bà cụ Thi,...
- Một trong các chi tiết: đoàn tàu, bóng tối và ánh sáng, âm thanh, hình ảnh Hà Nội xa xăm trong tưởng tượng của Liên,...
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ trình bày quan điểm của em về tầm quan trọng của ước mơ trong cuộc sống con người.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ
- Xác định vấn đề cần bàn luận, giải thích khái niệm, phân tích vai trò, đưa dẫn chứng phù hợp và mở rộng vấn đề. Đoạn văn cần có sự liên kết chặt chẽ, diễn đạt rõ ràng.
1. Mở đoạn
Nêu vấn đề: Ước mơ chính là động lực quan trọng giúp con người vươn lên và hoàn thiện bản thân.
2. Thân đoạn
* Giải thích
- Ước mơ là những khát vọng, mục tiêu tốt đẹp mà con người mong muốn đạt được trong tương lai.
- Đó có thể là ước mơ học tập, nghề nghiệp, cống hiến, hay đơn giản là sống hạnh phúc, có ích.
* Tầm quan trọng của ước mơ
a. Ước mơ tạo động lực hành động
- Giúp con người có mục tiêu rõ ràng.
- Thúc đẩy nỗ lực, kiên trì vượt qua khó khăn.
b. Ước mơ giúp con người sống có ý nghĩa
- Không sống mờ nhạt, buông xuôi.
- Có phương hướng để phát triển bản thân.
c. Ước mơ nuôi dưỡng niềm tin và hi vọng
- Giúp con người đứng dậy sau thất bại.
- Tạo nguồn năng lượng tích cực.
d. Mở rộng – phản đề
- Người không có ước mơ dễ sống thụ động, thiếu mục tiêu.
- Tuy nhiên, ước mơ cần gắn với thực tế và phải đi cùng hành động; nếu chỉ mơ mộng viển vông sẽ không đem lại giá trị.
3. Kết đoạn
Tổng kết vấn đề nghị luận.
Viết bài văn nghị luận phân tích nét đặc sắc trong cảnh chờ tàu ở cuối truyện ngắn Hai đứa trẻ.
- Vận dụng kiến thức về truyện ngắn hiện đại và kĩ năng viết bài văn nghị luận phân tích tác phẩm văn học.
- Cần xác định vấn đề nghị luận, lựa chọn các chi tiết tiêu biểu trong cảnh chờ tàu, phân tích tâm trạng nhân vật, ý nghĩa biểu tượng của đoàn tàu và những đặc sắc nghệ thuật, từ đó làm rõ giá trị nhân đạo của tác phẩm.
1. Mở bài
- Giới thiệu nhà văn Thạch Lam và truyện ngắn Hai đứa trẻ.
- Dẫn vào cảnh chờ tàu ở cuối truyện, một trong những đoạn đặc sắc nhất, thể hiện rõ tâm hồn nhân vật và tư tưởng nhân đạo của nhà văn.
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh và nguyên nhân chờ tàu
- Phố huyện chìm trong bóng tối, cuộc sống nghèo nàn, quẩn quanh.
- Liên và An cố thức chờ tàu dù đã buồn ngủ.
- Hai chị em chờ tàu không chỉ để bán hàng mà chủ yếu để được nhìn thấy một thế giới khác, náo nhiệt và tươi sáng hơn.
b. Tâm trạng của Liên và An khi chờ tàu
- An háo hức, mong chị đánh thức khi tàu đến, thể hiện niềm mong đợi hồn nhiên của trẻ thơ.
- Liên tỉnh táo, lặng lẽ quan sát, chăm sóc em và đón đợi chuyến tàu bằng những cảm xúc tinh tế.
- Sự chờ đợi ấy gợi niềm thương cảm trước những niềm vui ít ỏi của trẻ em nghèo.
c. Hình ảnh đoàn tàu và ý nghĩa biểu tượng
- Đoàn tàu xuất hiện với ánh sáng, âm thanh và sự chuyển động, làm thay đổi không khí tĩnh lặng của phố huyện.
- Đoàn tàu gợi nhớ Hà Nội với những ngày tháng tươi sáng trong kí ức của Liên.
- Đoàn tàu tượng trưng cho một thế giới khác, khơi dậy khát vọng sống, ước mơ và niềm hi vọng của những con người nghèo khổ.
- Khi đoàn tàu đi qua, phố huyện trở lại bóng tối và sự tĩnh lặng. Niềm vui chỉ thoáng qua, còn cuộc sống thường ngày vẫn tiếp diễn.
d. Đặc sắc nghệ thuật và giá trị tư tưởng
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, ngôn ngữ giàu chất thơ.
- Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, giữa đoàn tàu náo nhiệt và phố huyện tĩnh lặng.
- Nhịp kể chậm rãi, giọng văn nhẹ nhàng, giàu cảm xúc.
- Thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người nghèo khổ và sự trân trọng những khát vọng bình dị của con người.
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của cảnh chờ tàu.
- Nêu cảm nhận về thông điệp của tác phẩm: con người dù sống trong hoàn cảnh khó khăn vẫn cần những niềm vui, ước mơ và hi vọng.





