Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 10 - Đề số 11
I. ĐỌC HIỂU
Đọc hiểu văn bản và trả lời những câu hỏi phía dưới:
CÔN SƠN CA
Nguyễn Trãi – Bản dịch: Phan Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Về đi sao chẳng sớm toan,
Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?
Muôn chung chín vạc làm gì,
Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi.
Đổng, Nguyên để tiếng trên đời,
Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan.
Lại kia trên núi Thú San,
Di, Tề nhịn đói chẳng màng thóc Chu.
Hai đàng khó sánh hiền ngu,
Đều làm cho thoả được như ý mình.
Trăm năm trong cuộc nhân sinh,
Người như cây cỏ thân hình nát tan.
Hết ưu lạc đến bi hoan,
Tốt tươi khô héo, tuần hoàn đổi thay.
Núi gò đài các đó đây,
Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh.
Sào, Do bằng có tái sinh,
Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn.
Bản dịch thơ được viết theo thể thơ nào?
Căn cứ vào số tiếng trong mỗi dòng thơ và cách gieo vần để xác định thể thơ.
Bản dịch thơ được viết theo thể thơ lục bát.
Câu thơ: “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” có ý nghĩa gì?
Dựa vào ngữ cảnh của câu thơ, chú ý hình ảnh ẩn dụ “bụi trần” và hình thức câu hỏi tu từ để làm rõ tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật trữ tình.
Nhà thơ như thể hiện sự đúng đắn của mình khi cáo quan về ở ẩn. Nửa đời làm quan Nguyễn Trãi bị những nịnh thần chèn ép. Chính vì thế mà ông chán ghét cảnh quan trường sự tận trung của ông như thế được coi là đã đủ. Câu hỏi “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” như lời tự nhắc nhở của nhà thơ đối với chính bản thân mình.
Em có cảm nghĩ gì về hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong bóng râm mát của trúc bóng râm? Từ đó, em thử hình dung thi sĩ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người như thế nào?
Phân tích hình ảnh nhân vật trữ tình trong mối quan hệ với cảnh vật; từ đó, suy luận về tâm hồn, tính cách và lối sống của Nguyễn Trãi.
Gợi ý:
- Cảm nghĩ của em về hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của trúc bóng râm: Gợi cho ta nghĩ đến hình ảnh một ông tiên đang rất nhàn, không chút vấn vương thế sự. Đó là một thi sĩ đa tình đang thả trọn vẹn tâm hồn với thiên nhiên. “Nhàn” chính là tâm trạng của tác giả lúc này.
- Thử hình dung Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người yêu thiên nhiên dù ở ẩn nhưng ông vẫn luôn lo cho đất nước, cho nhân dân. Ông luôn là người có nhân cách thanh cao, phẩm chất thi sĩ và nghệ sĩ ở ông.
Hãy chỉ ra hiện tượng dùng điệp từ trong đoạn thơ sau và phân tích tác dụng của điệp từ đối với việc tạo nên giọng điệu của đoạn thơ.
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm.
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
Vận dụng kiến thức về phép điệp; xác định những từ ngữ được lặp lại, sau đó phân tích tác dụng của chúng đối với việc thể hiện nội dung, cảm xúc và giọng điệu.
- Điệp từ “ta”, “Côn Sơn”, “trong”…
Tác dụng:
- Điệp từ “ta” nhấn mạnh sự hiện diện của nhân vật trữ tình và những hoạt động thư thái của nhà thơ giữa thiên nhiên, qua đó thể hiện tâm thế ung dung, tự tại.
- Điệp từ “Côn Sơn”, “trong” góp phần nhấn mạnh không gian thiên nhiên thanh bình, xanh mát, đồng thời tạo sự liên kết giữa các hình ảnh thơ.
- Phép điệp kết hợp với nhịp thơ lục bát và những hình ảnh so sánh giàu sức gợi đã tạo nên giọng điệu nhẹ nhàng, êm ái, khoan thai, thể hiện niềm vui và sự thanh thản của Nguyễn Trãi khi hòa mình vào thiên nhiên.
So sánh cách ví von tiếng suối của Nguyễn Trãi trong hai câu “Côn Sơn suối chảy rì rầm/Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” với tiếng suối của Hồ Chí Minh “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”.
Xác định hình ảnh so sánh trong hai đoạn thơ; chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt về đối tượng so sánh, cảm nhận thiên nhiên và sắc thái biểu cảm.
- Điểm giống nhau:
+ Cả Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều sử dụng biện pháp tu từ so sánh để miêu tả tiếng suối, khiến âm thanh thiên nhiên trở nên gần gũi, sinh động và giàu sức gợi.
+ Tiếng suối đều được cảm nhận qua tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của người nghệ sĩ, cho thấy tình yêu thiên nhiên và khả năng giao hòa với cảnh vật của hai tác giả.
- Điểm khác nhau:
+ Trong thơ Nguyễn Trãi, tiếng suối được ví với “tiếng đàn cầm bên tai”. Cách so sánh gợi âm thanh du dương, êm dịu, tạo cảm giác gần gũi, thân thuộc. Tiếng suối như bản nhạc tự nhiên đem đến sự thư thái cho con người giữa không gian Côn Sơn thanh bình.
+ Trong thơ Hồ Chí Minh, tiếng suối được ví với “tiếng hát xa”. Cách so sánh khiến âm thanh thiên nhiên trở nên trong trẻo, ngân nga, có sức lan tỏa giữa không gian núi rừng tĩnh lặng. Tiếng suối như tiếng hát của con người, làm cho cảnh khuya thêm thơ mộng và ấm áp.
- Đánh giá: Cả hai cách ví von đều thể hiện tâm hồn thi sĩ yêu thiên nhiên, nhưng mỗi tác giả có một cách cảm nhận riêng. Nguyễn Trãi nghiêng về cảm giác thanh nhàn, hòa hợp với thiên nhiên; Hồ Chí Minh làm nổi bật vẻ đẹp trong trẻo, thơ mộng của cảnh khuya.
II. VIẾT
Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp thiên nhiên trong đoạn trích ở phần đọc hiểu.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học
- Xác định vẻ đẹp nổi bật của thiên nhiên trong đoạn thơ, lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu và phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ thuật.
I. Mở đoạn
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi – danh nhân văn hóa, nhà thơ lớn của dân tộc.
- Giới thiệu đoạn trích Côn Sơn ca – bức tranh thiên nhiên Côn Sơn thanh khiết, giàu chất nhạc và thấm đẫm tâm hồn thi nhân.
II. Thân đoạn
1. Thiên nhiên Côn Sơn giàu âm thanh và nhạc tính
- Hình ảnh: “Côn Sơn suối chảy rì rầm”.
- So sánh: “như tiếng đàn cầm bên tai”.
→ Âm thanh suối nước trở thành tiếng nhạc êm dịu, thể hiện sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên.
→ Thiên nhiên không vô tri mà có hồn, có nhạc.
2. Thiên nhiên trong trẻo, mát lành, gần gũi
- Đá rêu phơi → “ngồi trên đá như ngồi đệm êm”.
- Thông mọc như nêm, bóng trúc râm.
→ Cảnh vật giản dị mà sinh động, gợi cảm giác êm ái, thư thái.
→ Gam màu xanh mát tạo không gian thanh sạch, yên bình.
3. Thiên nhiên gắn với đời sống ẩn dật, thanh cao
“Ta ngâm thơ nhàn” → thiên nhiên là nơi nuôi dưỡng tâm hồn.
Cảnh Côn Sơn đối lập với “bụi trần”, danh lợi.
→ Thiên nhiên trở thành chốn lui về, biểu tượng cho lối sống thanh bạch, cao khiết.
III. Kết đoạn
Tổng kết lại vấn đề nghị luận
Viết bài luận ngắn (400-500 chữ) bàn về chủ đề: Những khoảng lặng suy tư trong đời.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội
- Giải thích khái niệm, phân tích vai trò của những khoảng lặng suy tư, đề xuất cách tạo lập khoảng lặng phù hợp và rút ra bài học nhận thức, hành động.
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề.
- Nêu vấn đề nghị luận: Những khoảng lặng suy tư trong đời.
2. Thân bài:
* Giải thích: Khoảng lặng là gì? Khoảng lặng là một thời điểm mà con người bình tâm lại không chịu sự chi phối của những sao động thực tại. Đó là khi tâm hồn, trí tuệ, cảm xúc được trào dâng mãnh liệt.
* Bàn luận:
- Vai trò của khoảng lặng suy tư trong cuộc đời:
+ Khoảng lặng suy tư khiến chúng ta sống sâu sắc, sống kĩ lưỡng hơn. Từ đó chúng ta có được những chiêm nghiệm trong cuộc sống. Chính vì thế, cuộc đời của chúng ta không trở nên phí hoài.
+ Cuộc sống sẽ trở thành của ta.
+ Sống như vậy là cách con người dành nhiều thời gian cho bản thân, giúp được những người mà chúng ta yêu thương.
- Làm thế nào để con người có những khoảng lặng:
+ Không nhất thiết phải tách bản thân ra khỏi mọi người. Tự bản thân có thể cho mình những khoảng lặng suy tư.
3. Kết bài:
Khẳng định lại vấn đề





