Đề thi tham khảo học kì 2 Văn 10 - Đề số 12
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
F.A ( Forever Alone) là một khái niệm âm chỉ những người hướng nội, ít hoặc không có bạn bè, thích tận hưởng cảm giác cô đơn một mình.
Bởi vì rất dễ hiểu, tự thỏa hiệp với bản thân bao giờ cũng dễ hơn thỏa hiệp với những người khác. Biểu hiện của những người F.A luôn kêu ca về tình trạng độc thân của mình, nhưng lại luôn gắn chặt cuộc sống với môi trường “ảo” internet, bất kể ngày hay đêm, bất kể ngày thường hay ngày lễ tết.
Cuộc sống của chúng ta đang diễn ra trên Facebook, Twitter, Youtube…chúng ta đang tự cô lập mình với thế giới thực, chúng ta đang tự biến mình thành F.A.
Trung bình, hằng ngày mỗi người Việt Nam tiêu tốn 2 giờ đồng hồ vào mạng xã hội, nhưng có lẽ phải nhiều hơn như vậy. Ở Việt Nam hiện nay, vợ gọi chồng xuống ăn cơm qua Facebook; hai người hẹn nhau đi ăn tối, mỗi người dán mắt vào một cái smartphone; bạn bè hội họp, lại mỗi người ôm khư khư một cái smart.
(Trích Hãy gập máy tính, tắt điện thoại để nói và cười, dẫn theo Báo giáo dục và thời đại, ngày 23/5/2014)
Theo văn bản, F.A được hiểu là gì?
Đọc kĩ văn bản, xác định thông tin được nêu trực tiếp trong phần giải thích khái niệm.
Theo văn bạn F.A có thể được hiểu là người hướng nội, ít hoặc không có bạn bè, thích tận hưởng cảm giác một mình.
Theo văn bản biểu hiện không tích cực của những người F.A là gì?
Đọc tìm thông tin, xác định những hành vi và biểu hiện được tác giả đề cập với thái độ phê phán.
Biểu được được xem là không tích cực của những người F.A đó là họ than vãn về tình trạng của mình nhưng lại tự thỏa hiệp với chính mình, luôn gắn chặt cuộc sống của mình với thế giới mạng, ngày càng xa rời thực tế, hạn chế quan hệ xã hội. Lâu dần, họ sẽ tự tách bản thân mình ra khỏi xã hội, có những ảo tưởng không thực tế.
Theo tác giả, nguyên nhân dẫn đến tình trạng F.A hiện nay là gì?
Căn cứ vào nội dung văn bản, xác định nguyên nhân được tác giả trực tiếp đề cập và khái quát lại bằng lời văn của mình.
Cuộc sống của chúng ta đang diễn ra trên Facebook, Twitter, Youtube…chúng ta đang tự cô lập mình với thế giới thực, chúng ta đang tự biến mình thành F.A.
Việc tác giả đưa ra hàng loạt dẫn chứng cuối bài nhằm mục đích gì?
Vận dụng kiến thức về vai trò của dẫn chứng trong văn bản nghị luận; phân tích mối liên hệ giữa các dẫn chứng và luận điểm của văn bản.
Việc tác giả đưa ra hàng loạt dẫn chứng ở cuối bài nhằm:
- Làm rõ thực trạng con người ngày càng phụ thuộc vào mạng xã hội và thiết bị điện tử trong cuộc sống hằng ngày.
- Chứng minh cho nhận định con người đang tự cô lập mình với thế giới thực.
- Tăng tính cụ thể, chân thực và sức thuyết phục cho lập luận, đồng thời cảnh báo người đọc về những ảnh hưởng tiêu cực của việc lạm dụng mạng xã hội đối với các mối quan hệ trực tiếp.
Đọc đoạn văn sau:
Hoài Văn Hầu làm trái phép nước, tội ấy đáng lẽ không dung. Nhưng Hoài Văn còn trẻ, tình cũng đáng thương, lại biết lo cho vua, cho nước, chí ấy đáng trọng. Vua truyền cho hai chú cháu đứng dậy và nói tiếp…
(Nguyễn Huy Tưởng)
Hãy giải thích nghĩa của các từ dung, truyền. Hai từ này góp phần tạo sắc thái gì cho đoạn văn?
Vận dụng kiến thức về nghĩa của từ Hán Việt và tác dụng của việc lựa chọn từ ngữ trong văn bản văn học.
Gợi ý:
- Dung: Có nghĩa là tha thứ, chấp nhận bỏ qua lỗi lầm hoặc hành vi sai trái của người khác. Trong đoạn trích, từ dung nằm trong cách nói “không dung”, nghĩa là không tha thứ, không bỏ qua tội lỗi.
- Truyền: Có nghĩa là ban lệnh, ra lệnh hoặc truyền đạt mệnh lệnh của người có quyền lực. Trong đoạn trích, từ truyền thể hiện việc nhà vua ra lệnh cho hai chú cháu đứng dậy.
=> Hai từ Hán Việt dung, truyền góp phần tạo sắc thái trang trọng, cổ kính, phù hợp với bối cảnh lịch sử và lời nói của nhà vua trong tác phẩm. Qua đó, ngôn ngữ nhân vật cũng thể hiện rõ không khí cung đình và vị thế của người đứng đầu đất nước.
II. VIẾT
Soạn thảo một văn bản nội quy về việc sử dụng thư viện của lớp, trường em.
- Vận dụng kiến thức và kĩ năng tạo lập văn bản nội quy.
- Cần xác định đối tượng thực hiện, mục đích của nội quy, lựa chọn các quy định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu và trình bày đúng hình thức của một văn bản thông tin.
Khi viết văn bản nội quy học sinh cần lưu ý những vấn đề sau:
- Đọc kĩ đề bài, xác định yêu cầu của đề: Xác định đối tượng, mục đích, nội dung, hình thức.
- Văn bản viết (kênh chữ; có thể có hình ảnh, kí hiệu đi kèm).
- Văn bản đảm bảo bố cục của một văn bản trông tin.
+ Phần đầu văn bản: Nêu tiêu đề của văn bản.
+ Phần nội dung văn bản: Lần lượt trình bày các yêu cầu và chỉ dẫn cụ thể. Có thể sắp xếp theo trật tự khác nhau tùy vào mục đích, tính chất và mức độ vi phạm phổ biến của người tham gia. Cũng có thể sắp xếp theo hai nhóm: i) Những quy định, yêu cầu bắt buộc, ii) Những chỉ dẫn, gợi ý.
+ Phần kết thúc văn bản: Trường…./Hiệu trưởng…..
Học sinh có thể trình bày sáng tạo miễn đảm bảo nội dung, cố cục của một văn băn nội quy.





