Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 11
Phần I. Đọc hiểu
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4
Những người vĩ đại không bao giờ từ bỏ ước mơ của mình. Họ luôn cố gắng san bằng mọi trở ngại để đạt được điều mình khao khát. Thomas Edison ước mơ về một bóng đèn có thể thắp sáng bằng điện và ông đã bắt tay vào việc hiện thực hóa ước mơ đó. Thế nhưng, ông phải tốn hơn mười ngàn lần mới tìm được nguyên liệu phù hợp để làm sợi dây tóc. Về phát minh này. T. Edison đã nói: “Tôi đã trải qua 10.000 lần thử nghiệm khác nhau mới tìm ra kết quả cuối cùng, nhưng tôi không nghĩ rằng mình đã thất bại 10.000 lần. Tôi không hề thất bại lần nào. Tôi đã thành công trong việc chứng minh rằng, có gần 10.000 chất liệu không thể dùng để chế tạo dây tóc bóng đèn. Và một khi đã loại bỏ dần những chất không phù hợp, cuối cùng tôi cũng đã tìm ra nội”.
Nếu bạn đang hướng đến một mục tiêu quan trọng nhưng cảm thấy thất vọng sau thất bại đầu tiên và muốn bỏ cuộc thì hãy tạm dừng lại. Hãy suy nghĩ về những điều bạn vừa trải qua. Hãy nghĩ về con đường thành công của các vĩ nhân và học tập tính kiên trì của họ.
Thành công không phải là thủ mà bạn có thể thừa kế như tiền bạc hay các giá trị vật chất thông thưởng. Thành công chỉ đến khi bạn dâm chấp nhận thất bại và kiến tri theo đuổi mục tiêu đã để ra. Bất kể mơ ước của bạn là gì chăng nữa, điều bạn cần làm đầu tiên là hãy san bằng mọi trở ngại và tiến về phía trước với tất cả nghị lực của mình.
(Trích Không gì là không thể - George Matthew Adams, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2018, tr:113- 114)
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên.
Dựa vào mục đích và cách triển khai nội dung của đoạn trích để xác định phương thức biểu đạt chính.
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Theo đoạn trích trên, những người vĩ đại không bao giờ làm điều gì?
Đọc kĩ câu văn đầu đoạn trích, tìm thông tin trực tiếp trả lời câu hỏi.
Theo đoạn trích những người vĩ đại là những người không bao giờ từ bỏ mơ ước của mình.
Xác định một lời dẫn trực tiếp có trong đoạn trích trên.
Xác định phần lời nói được dẫn nguyên văn, thường được đặt trong dấu ngoặc kép và giữ nguyên cách diễn đạt của người được dẫn.
Lời dẫn trực tiếp: “Tôi đã trải qua 10.000 lần thử nghiệm khác nhau mới tìm ra kết quả cuối cùng, nhưng tôi không nghĩ rằng mình đã thất bại 10.000 lần. Tôi không hề thất bại lần nào. Tôi đã thành công trong việc chứng minh rằng, có gần 10.000 chất liệu không thể dùng để chế tạo dây tóc bóng đèn. Và một khi đã loại bỏ dần những chất không phù hợp, cuối cùng tôi cũng đã tìm ra nội”.
Em hiểu như thế nào về đoạn văn: Thành công không phải là thứ mà bạn có thể thừa kế nhiều tiền bạc hay các giá trị vật chất thông thường. Thành công chỉ đến khi bạn dám chấp nhận thất bại và kiên trì theo đuổi mục tiêu đã đề ra.
Giải thích ý nghĩa của các từ khóa “thành công”, “thất bại”, “kiên trì”, từ đó khái quát thông điệp của đoạn văn.
Đoạn văn có thể hiểu thành công không chỉ là việc bạn thừa kế của người đi trước để lại những giá trị vật chất thông thường. Mà thành công là khi bạn dám chấp nhận thử thách, dám chấp nhận thất bại, kiên trì theo đuổi mục tiêu bản thân đã đề ra.
Hãy viết đoạn văn (từ 5 đến 7 câu) chia sẻ những việc cần làm để biến ước mơ thành hiện thực.
Xác định những việc làm thiết thực để biến ước mơ thành hiện thực, sau đó trình bày thành đoạn văn từ 5–7 câu.
Gợi ý:
- Xác định năng lực bản thân.
- Lên kế hoạch rõ ràng.
- Hành động ngay bây giờ bằng cách trau dồi kiến thức, kĩ năng.
- Tin tưởng vào ước mơ đã chọn.
- Đừng ngần ngại đương đầu với thử thách.
- Đừng bao giờ bỏ cuộc.
- …
Phần II. Viết
Từ nội dung được gợi ra ở phần Đọc hiểu, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) về vai trò của tự học trong xã hội hiện nay.
Phân tích, tổng hợp.
- Xác định vấn đề: Vai trò của tự học trong xã hội hiện nay.
- Bản luận:
+ Tự học là quá trình mà ở đó một cá nhân chủ động tìm kiếm kiến thức, kỹ năng, hoặc thông tin mà không cần đến sự giảng dạy trực tiếp từ giáo viên hay tham gia một khóa học cụ thể nào.
+ Tự học giúp người học chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực, phẩm chất. Từ đó, giúp người học nâng cao năng lực, phẩm chất.
+ Tự học giúp con người nhớ kiến thức lâu hơn, sâu hơn, kỹ hơn.
+ Tự học sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập giúp khơi dậy những năng lực tiềm tàng bên tron mỗi con người.
+ Quá trình tự học đòi hỏi sự chủ động, tự giác và kỷ luật cao từ người học, cũng như khả năng tự đặt ra mục tiêu học tập, lên kế hoạch học tập, tìm kiếm và sử dụng nguồn học liệu, và đánh giá kết quả học tập của bản thân.
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
- Liên hệ bản thân.
Viết bài văn phân tích đoạn trích sau để thấy được vẻ đẹp của nhân vật Thúy Kiều: Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn:
Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hại.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bạc ngữ ân,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học.
1. Giới thiệu chung
- Tác giả: Nguyễn Du (1765– 1820), quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một nhà thơ vĩ đại của nền văn học Việt Nam.
- Truyện Kiều là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam, tác phẩm còn có tên gọi khác là “Đoạn trường tân thanh”, được viết dựa trên cốt truyện của “Kim Vân Kiều truyện” nhưng sự sáng tạo về nội dung và nghệ thuật là rất lớn. Tác phẩm thấm nhuần tinh thần nhận đạo cao dẹp và có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc. - Tác giả đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật của mình đặc biệt là nhân vật Thúy Kiều nổi bật với tài và sắc trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”.
2. Phân tích, cảm nhận
a. Vẻ đẹp ngoại hình của Kiều:
- Nguyễn Du đã đặt Thúy Vân lên đầu, tả nàng trước, mặc dù nàng là em:
+ Vẻ đẹp của Thúy Vân: Dịu dàng, ôn nhu, khuôn mặt tròn trịa, đầy đặn, mắt phượng mày ngài -> Vô cùng đoan trang xinh đẹp, thiên nhiên cũng khuất phục trước vẻ đẹp của nàng "thua, nhường". => Tả Vân trước tả Kiều để làm nổi bật vẻ đẹp cùng tài năng của Kiều (nghệ thuật đòn bẩy, so sánh): "càng, lại". + Vẻ đẹp của Kiều ở đôi mắt "làn thu thủy": trong veo, êm dịu, đượm buồn như nước hồ mùa thu + Vẻ đẹp ở đôi mày "nét xuân sơn": như nét bút vẽ núi mùa xuân trong bức tranh thủy mặc. => Nghệ thuật lấy điểm tả diện: chỉ đặc tả đôi mắt, đôi mày nhưng hiện lên một khuôn mặt của một trang giai nhân tuyệt mỹ.
- Nhan sắc của Kiều: đẹp như hoa, yểu điệu như liễu nhưng vẻ đẹp vượt trên vẻ đẹp thông thường -> khiến trời đất "ghen", "hờn", thiên nhiên đố kị.
=> Báo hiệu cuộc đời chông gai của Kiều.
- Sắc đẹp của Kiều ví như sắc đẹp của người con gái khiến cho quân vương say đắm mà mất đi quốc gia. -> Kiều mang vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt mỹ, thế nhưng vẻ đẹp ấy khiến trời đất ghen tị dự báo cuộc đời lênh đênh của nàng sau này.
b. Tài năng của Kiều: Nhan sắc của Kiều xinh đẹp là vậy nhưng tài năng của nàng còn tuyệt vời hơn - Tất cả tài năng của nàng đều được thiên phú, nàng am hiểu cả cầm - kỳ - thi - họa
-> Người con gái lý tưởng trong xã hội phong kiến "pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm". - Nàng am hiểu mọi thứ nhưng nổi bật nhất là thi ca, cầm chương nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương" -> sáng tác khúc đàn bạc mệnh (khúc nhạc khiến ai cũng phải thương tâm, đau lòng). => Dự báo cuộc đời, vận mệnh bi kịch của nàng như khúc đàn Bạc mệnh.
c. Nghệ thuật:
- Vẻ đẹp cùng tài năng của Kiều đã ở mức tuyệt mỹ, khiến cho trời đất cũng phải ghen tị, đố kỵ -> báo hiệu cuộc đời khổ ải sau của nàng.
– Nghệ thuật lấy điểm tả diện, đòn bẩy, ước lệ được Nguyễn Du vận dụng để miêu tả vẻ đẹp tuyệt mỹ của Kiều.
3. Tổng kết vấn đề
Nêu cảm nhận về nhân vật Thúy Kiều:
- Nhân vật Kiều là nhân vật điển hình cho hình tượng người phụ nữ xưa
-> Ca ngợi phẩm giá của người phụ nữ.
– Lên án, tố cáo một xã hội bất công, thối nát đẩy con người vào tình cảnh éo le.





