Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 10 - Đề số 12
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
Có mấy ai nhận ra rằng khoảng thời gian hạnh phúc nhất chính là những giây phút hiện tại mà chính ta đang sống? Cuộc sống vốn chứa đựng nhiều2 thử thách, khó khăn và nghịch cảnh. Cách tốt nhất thích ứng cuộc sống này là chấp nhận thực tế và tin vào chính mình. Tự bản thân mỗi chúng ta, trong bất kì hoàn cảnh nào, phải biết cảm nhận và tìm lấy niềm hạnh phúc cho riêng mình. Đừng trông đợi một phép màu hay một ai đó sẽ mang hạnh phúc đến cho bạn. Đừng đợi đến khi bạn thật rảnh rỗi hay đến lúc tốt nghiệp ra trường, đừng đợi đến khi kiếm được thật nhiều tiền, có gia đình hoặc đến khi được nghỉ hưu mới thấy đó là lúc bạn được hạnh phúc… Tại sao không phải lúc này? Hạnh phúc là một con đường đi, một hành trình. Hãy trân trọng những khoảnh khắc quý giá trong hành trình ấy. Hãy dành thời gian quan tâm đến người khác và luôn nhớ rằng, thời gian không chờ đợi một ai!
(Trích Hạt giống tâm hồn, NXB Văn học, 2012)
Xác định kiểu văn bản của đoạn trích trên.
Vận dụng kiến thức về kiểu văn bản, căn cứ vào mục đích, nội dung và cách triển khai của đoạn trích.
Đoạn trích thuộc kiểu văn bản nghị luận
Theo tác giả, khoảng thời gian hạnh phúc nhất là khi nào?
Đọc kĩ văn bản, tìm và xác định thông tin được nêu trực tiếp.
Theo đoạn trích, Có mấy ai nhận ra rằng khoảng thời gian hạnh phúc nhất chính là những giây phút hiện tại mà chính ta đang sống.
Chỉ ra biện pháp tu từ có trong các câu sau:
Đừng trông đợi một phép màu hay một ai đó sẽ mang hạnh phúc đến cho bạn. Đừng đợi đến khi bạn thật rảnh rỗi hay đến lúc tốt nghiệp ra trường, đừng đợi đến khi kiếm được thật nhiều tiền, có gia đình hoặc đến khi được nghỉ hưu mới thấy đó là lúc bạn được hạnh phúc…
Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ, chú ý những từ ngữ hoặc cấu trúc được lặp lại.
- Biện pháp tu từ: điệp cấu trúc “đừng đợi”
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu dồn dập, giọng điệu thúc giục, khuyên nhủ.
+ Nhấn mạnh con người không nên chờ đợi để có thể sống hạnh phúc, hạnh phúc luôn luôn tồn tại bất kể thời gian và không gian.
Tại sao tác giả cho rằng: khoảng thời gian hạnh phúc nhất chính là những giây phút hiện tại mà chính ta đang sống?
Vận dụng kĩ năng lí giải ý kiến, dựa vào nội dung và lập luận của văn bản để làm rõ nguyên nhân.
Tác giả cho rằng như vậy vì:
- Hiện tại là khoảng thời gian con người đang thực sự sống, có thể cảm nhận và chủ động tạo dựng hạnh phúc.
- Quá khứ đã qua, không thể thay đổi; tương lai chưa đến và còn nhiều điều không thể dự đoán.
- Nếu luôn chờ đợi đến khi có nhiều tiền, tốt nghiệp, lập gia đình, nghỉ hưu... mới tìm kiếm hạnh phúc, con người có thể bỏ lỡ những niềm vui đang hiện hữu.
- Vì vậy, mỗi người cần biết chấp nhận thực tế, chủ động tìm kiếm và trân trọng hạnh phúc trong từng khoảnh khắc hiện tại.
Trong văn bản, tác giả cho rằng: “Cách tốt nhất thích ứng cuộc sống này là chấp nhận thực tế và tin vào chính mình”. Em có đồng tình với quan điểm này không? Giải thích lý do.
- Vận dụng kĩ năng bày tỏ quan điểm về một vấn đề, kết hợp giải thích, phân tích và liên hệ thực tế.
- Có thể lựa chọn đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần, nhưng cần lí giải thuyết phục.
Gợi ý: đồng tình với quan điểm của tác giả.
- Cuộc sống luôn có những thay đổi, khó khăn và nghịch cảnh mà con người không thể hoàn toàn kiểm soát.
- Chấp nhận thực tế giúp con người nhìn nhận đúng hoàn cảnh, không chìm đắm trong than trách hay trốn tránh vấn đề.
- Tin vào chính mình giúp mỗi người có thêm động lực, bản lĩnh và sự chủ động để tìm cách giải quyết khó khăn.
- Khi kết hợp khả năng thích nghi với niềm tin vào bản thân, con người có thể bình tĩnh vượt qua nghịch cảnh, phát huy năng lực và trưởng thành hơn.
- Tuy nhiên, chấp nhận thực tế không đồng nghĩa với cam chịu; tin vào bản thân cũng không có nghĩa là chủ quan. Mỗi người cần biết nhìn nhận thực tế để chủ động thay đổi những điều có thể thay đổi.
II. VIẾT
Viết một đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về vai trò của nghị lực trong cuộc sống.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: vai trò của nghị lực trong cuộc sống.
- Kết hợp lí lẽ chặt chẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề.
- Đoạn văn cần bảo đảm tính thống nhất về nội dung, lập luận mạch lạc, diễn đạt trong sáng, có mở đoạn, triển khai và kết đoạn.
1. Mở đoạn
Giới thiệu vấn đề nghị luận: Nghị lực là sức mạnh tinh thần giúp con người kiên cường, không gục ngã trước nghịch cảnh và đạt được thành công.
2. Thân đoạn
- Giải thích khái niệm: Nghị lực là ý chí, là bản lĩnh vững vàng giúp con người kiên định theo đuổi mục tiêu, vượt qua khó khăn và không đầu hàng số phận.
- Vai trò của nghị lực:
+ Giúp con người vượt qua thất bại, thử thách trong cuộc sống.
+ Là động lực để con người phát triển bản thân, đạt được ước mơ và lý tưởng.
+ Giúp con người giữ vững niềm tin, tinh thần lạc quan, không bị gục ngã trước khó khăn.
+ Là thước đo giá trị nhân cách, làm nên thành công và hạnh phúc lâu dài.
- Phản đề: Người thiếu nghị lực dễ bỏ cuộc, thất bại, mất niềm tin, sống buông xuôi.
- Bài học – liên hệ bản thân: Cần rèn luyện nghị lực mỗi ngày qua học tập, lao động, biết kiên trì và không ngại thử thách.
3. Kết đoạn
Tổng kết vấn đề nghị luận
Cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh cảnh ngày hè trong đoạn thơ sau:
Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
(Trích Cảnh ngày hè – Bảo kính cảnh giới, bài 43 – Nguyễn Trãi)
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học, kết hợp các thao tác phân tích, chứng minh, bình luận, tổng hợp.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên ngày hè và cảm xúc của Nguyễn Trãi trước thiên nhiên.
- Phân tích các yếu tố hình ảnh, màu sắc, động từ, âm thanh, hương thơm, nhịp điệu và cách sử dụng từ ngữ giàu sức gợi để làm nổi bật vẻ đẹp bức tranh.
- Kết hợp dẫn chứng thơ với lí lẽ, tránh chỉ liệt kê các biện pháp nghệ thuật mà không làm rõ tác dụng.
1. Mở bài:
2. Thân bài:
Thời điểm cuối ngày trong văn học trung đại cũng có những câu thơ:
Ví dụ:
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn
(Bà Huyện Thanh Quan)
Chim hôm thoi thót về rừng
Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành
( Nguyễn Du)
->Trong thơ Nguyễn Trãi, tuy là lầu tịch dương, là cuối ngày rồi nhưng vạn vật vẫn căng tràn sức sống. Bức tranh thiên nhiên rộn rã, tươi thắm, dạt dào sức sống.
+ đùn đùn: có dòng nhựa sống đang ứa căng trong thớ vỏ của hoa hòe, phun trào ra hết lớp này đến lớp khác.
+ giương: tán lá xòe rộng ra để che rợp cả khoảng không rộng lớn.
+ phun: dòng nhựa đang tràn trề và phun trào lên, tạo thành màu đỏ rực rỡ của hoa lựu. Màu hoa đỏ này ta đã từng gặp trong thơ Nguyễn Du
Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông
Câu thơ của Nguyễn Du thiên về tạo hình, câu thơ của Nguyễn Trãi nói được sức sống của hoa lựu
+ Tiễn: ngát, nức hương thơm của hoa sen
+ Xúc giác -> sự mát mẻ, dễ chịu
+ Thị giác -> sự rực rỡ sắc màu của bức tranh thiên nhiên
+ Khứu giác: hương thơm, sự nồng nàn của hương sen.
=>Tất cả các màu sắc ấy đang được tắm mình trong màu vàng nhạt của ánh trời chiều sắp tắt.
=> Sự hòa sắc tinh tế, tạo nên bức tranh tươi sáng.
=> Gợi nên sự yêu đời.
=> Bức tranh thiên nhiên cuộc sống gần gũi, chân thực, sống động và có hồn.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận





