Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 10 - Đề số 11
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
“Thật vậy, Nguyễn Du đại thi hào của dân tộc từng viết “Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa”. Đáng tiếc, cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách dường như đã dần phôi pha. Sách in nhiều nơi không bán được, nhiều nhà xuất bản đóng cửa vì thua lỗ, đặc biệt sách bị cạnh tranh khốc liệt bởi những phương tiện nghe nhìn như ti vi, Ipad, điện thoạt Smart và hệ thống sách báo điện tử trên Internet. Nhiều gia đình giàu có thay tủ sách bằng tủ ... rượu các loại. Các thư viện lớn của các thành phố hay của tỉnh cũng chỉ hoạt động cầm chừng, cố duy trì sự tồn tại.
Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những quyển sách dấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu cơm, lúc tha thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus... Hay hình ảnh những công dân nước Nhật mỗi người một quyển sách trên tay lúc ngồi chờ tàu xe, xem hát. càng khiến chúng ta thêm yêu mến và khâm phục. Ngày nay, hình ảnh ấy đã bớt đi nhiều, thay vào đó là cái máy tính hay cái điện thoại di động. Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay”
(Trần Hoàng Vy, Báo Giáo dục & Thời đại, thứ hai ngày 13.4.2015)
Xác định kiểu văn bản của đoạn trích trên.
Vận dụng kiến thức về kiểu văn bản căn cứ vào mục đích, nội dung và cách triển khai của văn bản.
Đoạn trích thuộc kiểu văn bản nghị luận.
Đặt nhan đề cho văn bản trên?
Vận dụng kĩ năng khái quát nội dung và đặt nhan đề, lựa chọn những từ ngữ thể hiện được vấn đề trung tâm của văn bản.
- Nhan đề: Vai trò của sách trong cuộc sống
Nội dung của văn bản là gì?
Vận dụng kĩ năng phân tích, tổng hợp, xác định vấn đề trung tâm được đề cập xuyên suốt văn bản.
- Văn bản đề cập đến thực trạng văn hóa đọc sách trong thời đại công nghệ thông tin, khi sách đang chịu sự cạnh tranh của các phương tiện nghe nhìn và thiết bị điện tử.
- Qua đó, tác giả khẳng định vai trò và sự cần thiết của việc đọc sách trong cuộc sống, đồng thời gợi nhắc con người cần trân trọng văn hóa đọc.
Phát hiện và sửa lỗi sai trong câu: “Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những quyển sách dấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi cơm, lúc than thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus ”
- Vận dụng kiến thức về lỗi dùng từ, đặc biệt là phân biệt các từ có âm gần giống nhau nhưng khác nghĩa.
- Đặt từ trong ngữ cảnh cụ thể để xác định cách dùng đúng.
- Từ sai “tha thẩn”
- Sửa lại:
“Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những quyển sách giấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi cơm, lúc thơ thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus...”
Theo anh/chị đọc sách có những tác dụng như thế nào trong cuộc sống con người? (Nêu ít nhất hai tác dụng của việc đọc sách)
Vận dụng kĩ năng phân tích, tổng hợp và liên hệ thực tiễn, xác định những giá trị của việc đọc sách đối với nhận thức, tâm hồn và cuộc sống.
Học sinh có thể nêu ít nhất hai tác dụng, chẳng hạn:
- Sách cung cấp kiến thức phong phú về tự nhiên, xã hội, con người và nhiều lĩnh vực khác.
- Đọc sách giúp con người hiểu biết sâu sắc hơn về cuộc sống, hình thành tư duy và khả năng nhìn nhận vấn đề.
- Những tác phẩm có giá trị giúp con người biết yêu thương, đồng cảm, trân trọng những điều tốt đẹp.
- Sách giúp con người phân biệt đúng, sai, tốt, xấu và định hướng những giá trị sống tích cực.
- Đọc sách góp phần phát triển khả năng ngôn ngữ, tư duy, tập trung và tự học.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về ý kiến: Một cuốn sách tốt là một người bạn hiền.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: vai trò của sách tốt đối với đời sống con người.
- Kết hợp lí lẽ chặt chẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề.
- Đoạn văn cần bảo đảm dung lượng khoảng 200 chữ, có câu chủ đề, lập luận mạch lạc, diễn đạt trong sáng.
* Giải thích:
+ “Sách tốt”: Là sách có nội dung tích cực, có tác dụng cung cấp cho ta những tri thức về mọi lĩnh vực của cuộc sống, giúp ta bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách…
+ “Bạn hiền”: Là người bạn có thể giúp ta chia sẻ những buồn vui, giúp ta vượt qua những thử thách, khó khăn để vươn lên trong học tập, cuộc sống.
* Bàn luận:
+ Sách tốt là người bạn đồng hành với ta trên con đường học tập, trau dồi tri thức để làm chủ cuộc sống của mình. “Sách mở ra trước mắt ta những chân trời mới”.
+ Sách tốt là người bạn giúp ta biết phân biệt xấu – tốt, đúng – sai; dạy ta biết yêu thương, trân trọng những điều tốt đẹp, biết căm giận, lên án cái xấu, cái ác, biết sẻ chia, cảm thông, biết trọng nghĩa tình
+ Sách tốt là người bạn nâng đỡ tâm hồn ta những lúc ta buồn.
+ Sách tốt khơi gợi cho ta những ước mơ, những hoài bão đẹp.
* Bài học nhận thức và hành động:
+ Biết trân trọng sách tốt và việc đọc sách.
+ Phê phán những quan điểm lệch lạc về việc đọc sách và chọn sách ở một bộ phận giới trẻ hiện nay.
Cảm nhận của em về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến cội cây, ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Nhàn, Trang 129, Ngữ Văn 10, Tập 1, NXB GD 2006)
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học, kết hợp các thao tác phân tích, chứng minh, bình luận, đánh giá và tổng hợp.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: vẻ đẹp cuộc sống, nhân cách và quan niệm “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ.
- Phân tích sự kết hợp giữa nội dung và nghệ thuật, chú ý các hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ, cách đối, nhịp thơ và ý nghĩa triết lí.
- Sử dụng dẫn chứng chính xác từ văn bản, lập luận chặt chẽ, bảo đảm bố cục ba phần.
1. Mở bài:
- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và phong cách thơ của ông: Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của văn học dân tộc. Thơ ông mang đậm tính triết lí, giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, phê phán những thói hư, tật xấu trong xã hội.
- Giới thiệu về bài thơ “Nhàn”: “Nhàn” là bài thơ Nôm số 73 trong Bạch Vân quốc ngữ thi, là lời tâm sự nhẹ nhàng, thâm trầm, sâu sắc về quan niệm sống "nhàn" của tác giả.
2. Thân bài:
a. Cuộc sống hàng ngày của nhà thơ
* Hai câu đề:
“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thần dầu ai vui thú nào.”
- “Một mai, một cuốc, một cần câu” trở về với cuộc sống thuần hậu, chất phác của một lão nông, tri điền, đào giếng lấy nước uống và cày ruộng lấy cơm ăn.
- Tác giả sử dụng kết hợp khéo léo thủ pháp liệt kê các dụng cụ lao động cùng với điệp từ “một” và nhịp thơ 2/2/3 cho thấy cuộc sống nơi thôn dã cái gì cũng có, tất cả đã sẵn sàng
- Các vật dụng gắn liền với công việc vất vả của người nông dân đi vào thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một cách tự nhiên, thư thái như chính tâm hồn của nhà thơ.
- Con người tìm thấy niềm vui, sự thanh thàn trong cuộc sống, không gợi chút mưu tục. Một mình ta lựa chọn cách sống “thơ thẩn” mặc kệ ai kia “vui thú nào”. Tự mình lựa chọn cho mình một lối sống, một cách sống kệ ai có những thú riêng, âu đó cũng là bản lĩnh của kẻ sĩ trước thời cuộc.
* Hai câu thực:
“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao.”
- Thủ pháp đối lập và cách nói ẩn dụ
+ Ta dại ↔ Người khôn
+ Nơi vắng vẻ ↔ chốn lao xao → hình ảnh ẩn dụ: Nơi vắng vẻ là nơi tĩnh tại của thiên nhiên, nơi tâm hồn tìm thấy sự thảnh thơi; Chốn lao xao là nơi quan trường, nơi bon chen quyền lực và danh lợi.
- Phác hoạ hình ảnh về lối sống của hai kiểu người Dại – Khôn → triết lí về Dại – Khôn của cuộc đời cũng là cách hành xử của tầng lớp nho sĩ thời bấy giờ => Cách nói ngược, hóm hỉnh.
=> Như vậy: Trong cuộc sống hàng ngày, với Nguyễn Bỉnh Khiêm, lối sống Nhàn là hoà hợp với đời sống lao động bình dị, an nhiên vui vẻ tránh xa vòng danh lợi, bon chen chốn vinh hoa, phú quý.
b. Quan niệm sống và vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ
* Hai câu luận:
“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”
- Hình ảnh thiên nhiên: bốn mùa tuần hoàn Xuân – Hạ – Thu – Đông
- Món ăn dân dã: măng trúc, giá
- Sinh hoạt: tắm hồ sen, tắm ao
- Sử dụng phép đối + liệt kê => Lối sống hoà hợp, thuận theo tự nhiên
=> Nhàn là “Thu ăn măng trúc đông ăn giá”, mùa nào thức nấy. Những sản vật không phải cao lương mĩ vị mà đậm màu sắc thôn quê. Ngay cả việc ăn uống, tắm táp, làm lụng...đã trở thành nhàn trong cái nhìn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Để có được sự an nhiên, tĩnh tại trong tâm hồn như vậy phải là một người có nhận thức sâu sắc của cuộc đời. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nhận thấy lòng tham chính là căn nguyên của tội lỗi. Bởi vậy mà ông hướng đến lối sống thanh bạch, giản dị, thuận theo tự nhiên.
* Hai câu kết
“Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”
- Điển tích: Rượu đến cội cây, sẽ uống, Phú quý tựa chiêm bao => Nguyễn Bỉnh Khiêm coi công danh phú quý tựa như giấc chiêm bao, giống như phù du vậy. Khi thể hiện quan điểm của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm lựa chọn mình thế đứng bên ngoài của sự cám dỗ danh lợi, vinh hoa – phú quý, bộc lộ thái độ xem thường.
- Nhìn xem: biểu hiện thế đứng từ bên ngoài, coi thường danh lợi. Khẳng định lối sống mà mình đã chủ động lựa chọn, đứng ngoài vòng cám dỗ của vinh hoa phú quý.
=> Nguyễn Bỉnh Khiêm cảm thấy an nhiên, vui vẻ bởi thi sĩ được hoà hợp với tự nhiên, nương theo tự nhiên để di dưỡng tinh thần, đồng thời giữ được cột cách thanh cao, không bị cuốn vào vòng danh lợi tầm thường.
=> Như vậy, thú Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là dấu ấn của một thờiđại lịch sử, thể hiện cách ứng xử của người trí thức trước thời loạn: giữ tròn thanh danh khí tiết. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nâng tư tưởng “Nhàn” trở thành một triết lý sống, là cách hành xử trước thời cuộc, coi đây là phương thức hoá giải mâu thuẫn và hoà hoãn những xung đột thờiông đang sống.
3. Kết bài:
Khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ: Với cách sử dụng ngôn ngữ giản dị mà giàu triết lí cùng cách nói đối lập, bài thơ đã dựng nên chân dung cuộc sống, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm: hoà hợp với thiên nhiên, cốt cách thanh cao, không màng danh lợi.





