Đề thi giữa kì 2 Ngữ văn 9 THCS Đồng Phong (Nho Quan) | (2024-2025)
Phần I. Đọc hiểu
Đọc ngữ liệu sau:
“Trên đường đời, bạn cũng có lúc vấp ngã. Tôi cũng vậy. Ngay cả người tài giỏi, khôn ngoan nhất cũng có lúc vấp ngã. Vấp ngã là điều bình thường, chỉ có những người không bao giờ đứng dậy sau vấp ngã mới là người thực sự thất bại. Điều chúng ta cần ghi nhớ là, cuộc sống không phải là một cuộc thi đỗ - trượt... Cuộc sống là một quá trình thử nghiệm các biện pháp khác nhau cho đến khi tìm ra một cách thích hợp. Những người đạt được thành công phần lớn là người biết đứng dậy từ những sai lầm ngớ ngẩn của mình bởi họ coi thất bại, vấp ngã chỉ là tạm thời và là kinh nghiệm bổ ích. Tất cả những người thành đạt mà tôi biết đều có lúc phạm sai lầm. Thường thì họ nói rằng sai lầm đóng vai trò quan trọng đối với thành công của họ. Khi vấp ngã, họ không bỏ cuộc. Thay vì thế, họ xác định các vấn đề của mình là gì, cố gắng cải thiện tình hình và tìm kiếm giải pháp sáng tạo hơn để giải quyết. Nếu thất bại năm lần, họ cố gắng đứng dậy năm lần, mỗi lần một cố gắng hơn, Winston Churchill đã nắm bắt được cốt lõi của quá trình này khi ông nói: “Sự thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết tâm vươn lên”.
(Trích Cuộc sống không giới hạn, Nick Vujicic, NXB Tổng hợp TP HCM, 2020, chương VII, trang 236)
Theo tác giả, những người đạt được thành công thường là người như thế nào?
Đọc kĩ đoạn văn, tìm câu văn trực tiếp trả lời cho câu hỏi về đặc điểm của những người đạt được thành công.
Theo tác giả: Những người đạt được thành công phần lớn là người biết đứng dậy từ những sai lầm ngớ ngẩn của mình bởi họ coi thất bại, vấp ngã chỉ là tạm thời và là kinh nghiệm bổ ích.
Chỉ ra câu văn có sử dụng lời dẫn trực tiếp trong đoạn ngữ liệu trên.
Xác định lời nói của nhân vật/tác giả khác được dẫn lại nguyên văn và đặt trong dấu ngoặc kép.
Câu văn có sử dụng lời dẫn trực tiếp: Nếu thất bại năm lần, họ cố gắng đứng dậy năm lần, mỗi lần một cố gắng hơn, Winston Churchill đã nắm bắt được cốt lõi của quá trình này khi ông nói: “Sự thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết tâm vươn lên”.
Em hiểu thế nào về câu: "Vấp ngã là điều bình thường, chỉ có những người không bao giờ đứng dậy sau vấp ngã mới là người thực sự thất bại"?
Giải thích ý nghĩa của câu nói theo nghĩa đen và nghĩa hàm ẩn, sau đó rút ra thông điệp.
- Giải thích: Vấp ngã, thất bại: Là những lần bạn không đạt được điều mình mong muốn.
- Vấp ngã (thất bại) là điều đương nhiên trong cuộc sống của mỗi người, ai cũng sẽ gặp và phải trải qua. Quan trọng nhất là cách chúng ta vượt qua vấp ngã.
- Chỉ riêng những người không dám đứng dậy sau vấp ngã, hay đó là những người hèn nhát, sợ hãi, không dám đối mặt với những điều xấu nhất có thể xảy ra thì họ mới thực sự là kẻ thất bại.
Em có đồng ý với quan điểm của Winston Churchill: "Sự thành công là khả năng đi từ thất bại này đến thất bại khác mà không đánh mất nhiệt huyết và quyết tâm vươn lên."? Vì sao?
Xác định quan điểm đồng tình/không đồng tình; dùng lí lẽ và dẫn chứng thực tế để bảo vệ quan điểm.
Gợi ý:
* Đồng ý vì:
- Thất bại là một phần của cuộc sống và đó là điều rất bình thường, không ai thành công mà không trải qua những thất bại.
- Thất bại thử thách sự kiên nhẫn của con người. Con người biết theo đuổi đam mê, chắc chắn sẽ thành công.
- Thất bại cho con người những bài học kinh nghiệm quý báu để nuôi dưỡng đam mê của chính mình.
* Không đồng ý, vì:
- Không phải ai cứ gặp thất bại hết lần này đến lần khác là sẽ thành công
- Không phải cứ đam mê, nhiệt huyết dù gặp thất bại là cũng đều có kết quả tốt đẹp mà quan trọng là làm thế nào để đứng lên sau thất bại…
Phần II. Viết
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc đứng dậy sau vấp ngã đối với tuổi trẻ trong cuộc sống
- Xác định vấn đề nghị luận: ý nghĩa của việc đứng dậy sau vấp ngã đối với tuổi trẻ
- Triển khai đoạn văn theo trình tự: giải thích → ý nghĩa → biểu hiện → bài học.
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: ý nghĩa của việc đứng dậy sau vấp ngã.
- Giải thích:
+ Vấp ngã: gặp phải hoàn cảnh khó khăn, trở ngại khiến ta không thể đạt được mục đích trong học tập, trong công việc, trong cuộc sống. Hay nói cách khác vấp ngã là thất bại khiến cho ta bị tổn thương, gây cho ta những đau đớn, mất mát
+ Đứng dậy sau vấp ngã: dám đối mặt với thất bại; vượt qua những tổn thương, đau đớn của việc vấp ngã và giữ vững ý chí, quyết tâm để tiếp tục thực hiện điều mà mình mơ ước
-> Vấp ngã có vai trò và ý nghĩa to lớn với mỗi người trong cuộc sống, nhất là đối với tuổi trẻ
- Đứng dậy sau vấp ngã có ý nghĩa to lớn, nhất là với tuổi trẻ:
+ Trong cuộc đời mỗi người, ai cũng từng ít nhất một lần vấp ngã/thất bại (theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng)
+ Đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã đối với mọi người nói chung, tuổi trẻ nói riêng:
+ Khẳng định được ý chí, bản lĩnh, lòng dũng cảm… của mỗi người
+ Giúp con người củng cố niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai tốt đẹp: giúp họ tiếp tục theo đuổi đam mê, ước mơ …để đạt đến thành công
+ Vấp ngã ở đâu đứng lên ở đó giúp con người học được những bài học kinh nghiệm để không vấp ngã lần sau
+ Có khả năng truyền cảm hứng cho những người xung quanh, được mọi người yêu mến, quý trọng
*Liên hệ, lời khuyên cho mọi người
Viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ), phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ sau:
KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON
Không có gì tự đến đâu con
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa
Mùa bội thu trải một nắng hai sương.
Không có gì tự đến, dẫu bình thường.
Phải bằng cả đôi tay và nghị lực
Như con chim suốt ngày chọn hạt
Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ
Dẫu bây giờ bố mẹ - đôi khi
Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.
Có roi vọt khi con hư và dối
Thương yêu con đâu đồng nghĩa với chiều
Đường con đi dài rộng rất nhiều
Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng
Trời xanh đấy nhưng chẳng bao giờ lặng
Chỉ có con mới nâng nổi chính mình.
Chẳng có gì tự đến – Hãy đinh ninh.
(Không có gì tự đến đâu con, Nguyễn Đăng Tấn, Lời ru vầng trăng, NXB Lao Động, 2000, tr 42)
* Chú thích:
- Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người.
- Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con”, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ “Lời ru vầng trăng”, xuất bản năm 2000.
- Xác định yêu cầu nghị luận: phân tích chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ “Không có gì tự đến đâu con”.
- Kết hợp phân tích nội dung với nghệ thuật, triển khai theo bố cục mở bài – thân bài – kết bài.
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người.
- Giới thiệu về tác phẩm: Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con”, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ “Lời ru vầng trăng”, xuất bản năm 2000.
- Nêu ý kiến chung về tác phẩm: Bài thơ là lời tâm tình, nhắn nhủ đầy yêu thương của cha đối với đứa con của mình về lẽ sống, không có gì tự đến. Muốn có được điều gì con phải nỗ lực, cố gắng không ngừng.
2. Thân bài: Trình bày cảm nhận về nét đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của bài thơ: Không có gì tự đến đâu con – Nguyễn Đăng Tấn
* Luận điểm 1: Trước tiên, chủ đề bài thơ “Không có gì tự đến đâu con” thật đặc sắc. Đó là lời tâm tình, nhắn nhủ đầy tình yêu thương của cha đối với đứa con của mình.
- Cha nói với con về quy luật của tự nhiên và quy luật khách quan của cuộc sống: Mọi thành quả không tự nhiên mà có, các sự vật trong tự nhiên phải trải qua thử thách khắc nghiệt cũng như con người phải có ý chí nghị lực, sự kiên trì mới dành được những điều tốt đẹp.
Không có gì tự đến đâu con
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa muốn thơm phải trải qua nắng lửa
Mùa bội thu trải một nắng hai sương
+ Câu thơ đầu của bài thơ như một lời dặn dò ân cần của cha với con. Giong thơ ngọt ngào. Nhà thơ nói với con về các sự vật không tự nhiên mà có.
+ Tác giả còn sử dụng thật khéo biện pháp liệt kê các sự vật: Quả, hoa, mùa bội thu để cho con hiểu mọi sự tự nhiên của cuộc sống quanh con.
+ Điệp ngữ “Không có gì tự đến” xuất hiện nhiều lần ở đầu các khổ thơ, nhấn mạnh và khắc sâu tư tưởng xuyên suốt toàn bài. Mọi việc trên đời đều có nhân quả, lý do riêng của nó.
+ Tác giả còn dùng lối điệp cấu trúc câu, mỗi câu thơ đậm tính triết lý gồm hai vế: Vế trước là kết quả, mục đích, vế sau là nguyên nhân. Để có mùa màng bội thu “quả muốn ngọt”, “hoa sẽ thơm”, “mùa bội thu” … con người phải trải qua bao vất vả, một nắng hai sương. Điệp từ “trải”, cùng hình ảnh biểu tượng “nắng lửa” nhấn mạnh những khó khăn, khắc nghiệt mà thế giới tự nhiên hay con người phải trải qua.
+ Khổ 2: Tác giả vẫn ân cần dặn dò con:
Không có gì tự đến, dẫu bình thường.
Phải bằng cả đôi tay và nghị lực
Như con chim suốt ngày chọn hạt
Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ
+ Để thành công, dẫu chỉ là công việc bình thường, con người cũng phải đánh đổi bằng sức lao động và nỗ lực của bản thân: Đôi tay và nghị lực.
+ Nhà thơ còn sử dụng phép so sánh giàu sức gợi hình, gợi cảm “Như con chim suốt ngày chọn hạt” cụ thể hóa sự cần mẫn, tỉ mỉ của loài chim. Từ đó, người cha khuyên con cũng phải có sự chăm chỉ, kiên trì như vậy mới đạt thành quả.
+ Với nghệ thuật nhân hóa, nhà thơ thể hiện cách nhìn đa chiều “Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ”gợi cuộc sống vốn bao dung nhưng cũng chứa đầy thử thách.
- Khổ 3: Là lời cha nói với con về tình cảm gia đình, mong con hiểu được tâm tình của cha mẹ.
Dẫu bây giờ bố mẹ có đôi khi
Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi
Có roi vọt khi con hư và dối
Thương yêu con đâu đồng nghiã với chiều
+ Độ tuổi của con còn thơ trẻ, hồn nhiên, có lúc còn ham chơi “hư và dối”, chưa hiểu hết được những quy luật của cuộc sống. Vì thế, bổn phận người làm cha mẹ phải biết linh hoạt, cương nhu trong uốn nắn, dạy bảo con: “nặng nhẹ”, “yêu thương”, “roi vọt” …
+ Cha mẹ tin rằng con sẽ hiểu được tấm lòng và tình yêu thương của cha mẹ. Cha yêu thương con, là chỗ dựa vững chắc cho con nhưng không nuông chiều.
- Khép lại bài thơ là lời nhắn nhủ của cha với con hãy giữ vững tinh thần, ý chí và nghị lực, hãy luôn tin vào bản thân mình và không ngừng nỗ lực vươn lên. (Khổ 4)
Đường con đi dài rộng rất nhiều
Năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng
Trời xanh đấy nhưng chẳng bao giờ lặng
Chỉ có con mới nâng nổi chính mình.
+ Cha vạch rõ con đường phía trước của con “dài rộng rất nhiều” nhưng điều quan trọng là con phải biết “giữ cây vươn thẳng”, tự giác và nghiêm khắc với bản thân.
+ Các hình ảnh ẩn dụ “Đường con đi dài rộng”, “năm tháng nụ xanh giữ cây vươn thẳng, ‘Trời xanh chẳng bao giờ lặng” nhằm khẳng định đường đời lắm gian nan, con phải có ý chí, bản lĩnh, không được cúi đầu trước khó khăn, cám dỗ của cuộc đời.
+ Khổ thơ là lời răn dạy: Không ai có thể sống thay con, chỉ có con mới quyết định được tương lai cuộc đời của mình.
+ Khổ thơ cuối đặc biệt: “Chẳng có gì tự đến – Hãy đinh ninh” bởi chỉ có một dòng thơ ngắn kết hợp dấu gạch ngang gợi suy ngẫm về những điều cha dạy mà con cần khắc cốt ghi tâm.
+ Từ láy “đinh ninh” như một lời trao gửi thiêng liêng của thế hệ cha anh, nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc, thấm thía với con.
=> Qua bài thơ người đọc cảm nhận được tình yêu thương con sâu sắc của người cha và sự trân trọng, tin yêu của nhà thơ vào tình cảm gia đình- một tình cảm thiêng liêng, cao đẹp.
* Luận điểm 2: Bài thơ “Không có gì tự đến đâu con” của Nguyễn Đăng Tấn còn được thể hiện qua hình thức nghệ thuật đặc sắc.
+ Bài thơ sử dụng thể thơ tự do phù hợp với việc diễn tả những lời thủ thỉ, tâm tình và dặn dò thiết tha, sâu lắng của người cha dành cho con.
+Hình ảnh bình dị, gần gũi nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng, mang tính khái quát cao, phù hợp những suy tư, cách nhìn có chiều sâu về cuộc sống của người cha.
+ Ngôn ngữ trong sáng, biểu cảm, giọng điệu tha thiết, sâu lắng nhưng trang nghiêm, tự hào ...
+ Các phép tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, điệp ngữ… được sử dụng khéo léo, phát huy hiệu quả trong diễn đạt.
* Đánh giá, liên hệ, mở rộng:
- Khắc sâu chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của bài thơ
- Liên hệ bài thơ: Nói với con – Y Phương
3. Kết bài:
- Khẳng định lại giá trị của bài thơ
- Cảm xúc hoặc lời nhắn gửi tới mọi người.





