Đề thi học kì 2 Ngữ văn 7 Sở Bắc Ninh (2025-2026)
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau:
Nền văn hóa thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia - dân tộc
Lịch sử đã chứng minh trong suốt chiều dài hàng nghìn năm các đế chế phương Bắc không từ bỏ dã tâm thôn tính đất nước Việt Nam trở thành quận, huyện và mưu toan đồng hóa người Việt. Trước thách thức của lịch sử, người Việt đã tự vệ cho dân tộc mình bằng vũ khí văn hóa là đề cao, lan tỏa sâu rộng tinh thần yêu nước thường nòi, ý thức về quốc gia - dân tộc. Người Việt đã sáng tạo hệ thống huyền thoại Họ Hồng Bàng nói về cội nguồn các dân tộc ở Việt Nam, coi các dân tộc ở Việt Nam là đồng bào. Tổ quốc là một gia đình lớn, có các vua Hùng là Quốc Tổ khai sinh nhà nước Văn Lang đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt. Sáng tạo truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy để truyền đời bài học cảnh giác trước họa ngoại xâm. Những câu chuyện dân gian nói về tài trí của sứ thần và các trạng Việt Nam trong giữ thể diện dân tộc, quốc gia khi đối đáp với vua, quan, sứ thần phương Bắc. Chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của ngoại bang với tinh thần: "Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh". Các làng xã của người Việt dựng đình để thờ thần làng làm thành hoàng bảo trợ, phần lớn các vị thần thờ là người có công chống xâm lược và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Những câu ca kêu gọi đại đoàn kết toàn dân tộc: "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"; "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng". Thời phong kiến quan niệm trung vua của người Việt bao giờ cũng gắn ái quốc. Ý thức về lãnh thổ quốc gia đã ăn sâu vào tâm thức người Việt qua câu chuyện truyền ngôn nước Văn Lang gồm 15 bộ tộc. Do vậy mới có chuyện Hoàng đế Quang Trung gửi thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) đòi phân rõ biên giới cũ, dự định lấy lại vùng đất của các vua Hùng. Tinh thần yêu nước thấm sâu vào mọi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ. Văn thơ yêu nước bác học bất luận ở thời kỳ nào trong lịch sử của dân tộc Việt, nhất là thời kỳ phong kiến tự chủ cũng thấm đậm chủ đề khẳng định Việt Nam là quốc gia có chủ quyền, có cương vực rõ ràng, có nền văn hiến lâu đời. Tiêu biểu là bài thơ thần: Nam quốc sơn hà Nam đế cư, tương truyền của tướng Lý Thường Kiệt và bài Cáo bình Ngô, thiên cổ hùng văn của đại thi hào Nguyễn Trãi. Hơn hết, người Việt hiểu rằng mất văn hóa là mất dân tộc, mất nước nên yêu nước là cùng nhau giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, […].
(Theo Những đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam, Nguyễn Hữu Thức,
https://vanhoavaphattrien.vn, ngày 30/9/2021)
Văn bản trên bàn về vấn đề gì?
Đọc nhan đề và nội dung chính của văn bản, xác định đối tượng, vấn đề được tập trung bàn luận
Vấn đề bàn luận trong văn bản: Nền văn hóa Việt Nam thấm đậm, bao trùm tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia-dân tộc/ đặc trưng (đặc điểm) nền văn hóa Việt Nam.
Theo văn bản, vũ khí văn hóa mà người Việt đã tự vệ cho dân tộc mình trước thách thức của lịch sử là gì?
Tìm thông tin được nêu trực tiếp trong đoạn văn trình bày cách người Việt tự vệ trước những thách thức của lịch sử.
Vũ khí văn hóa mà người Việt đã tự vệ cho dân tộc mình trước thách thức của lịch sử là: đề cao, lan tỏa sâu rộng tinh thần yêu nước, thương nòi, ý thức về quốc gia – dân tộc.
Chỉ ra 02 bằng chứng được sử dụng trong văn bản.
Xác định những sự việc, nhân vật, tác phẩm hoặc câu nói cụ thể được tác giả đưa ra để làm sáng tỏ luận điểm
02 bằng chứng phù hợp trong văn bản (VD: huyền thoại họ Hồng Bàng, truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy, những câu chuyện dân gian về tài trí các sứ thần và các trạng Việt Nam,…bài thơ Nam quốc sơn hà, bài Cáo bình Ngô).
Giải thích nghĩa của từ ái quốc trong câu văn sau: Thời phong kiến quan niệm trung vua của người Việt bao giờ cũng gắn ái quốc.
Dựa vào nghĩa của các yếu tố Hán Việt cấu tạo nên từ và ngữ cảnh sử dụng từ đó trong câu
Nghĩa của từ ái quốc: ái là yêu, quốc là nước; ái quốc là yêu nước.
Ý kiến người Việt hiểu rằng mất văn hóa là mất dân tộc, mất nước giúp em hiểu gì về thái độ của người Việt đối với văn hóa?
Phân tích ý nghĩa của nhận định, từ đó rút ra thái độ, tình cảm và hành động của người Việt đối với văn hóa dân tộc
Ý kiến “mất văn hóa là mất dân tộc” thể hiện thái độ của người Việt đối với văn hóa:
+ Trân trọng, đề cao, tôn vinh văn hóa lên vị trí sống còn.
+ Lo lắng nếu văn hóa dân tộc có nguy cơ bị mai một, bị hòa tan.
+ Quyết tâm giữ gìn văn hóa dân tộc.
+ ….
Từ quan điểm yêu nước là cùng nhau giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, em hãy nêu 02 việc học sinh trung học cơ sở có thể làm để góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Dựa vào nhận định trong văn bản, liên hệ với trách nhiệm và những việc làm thiết thực của học sinh trong đời sống
02 việc làm phù hợp để góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc: giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; giới thiệu văn hóa dân tộc với những người xung quanh và bạn bè quốc tế; tìm hiểu, trân trọng các di sản lịch sử, văn hóa; tích cực tham gia các lễ hội truyền thống, các trò chơi dân gian; giữ gìn đạo đức, lối sống tốt đẹp của dân tộc,...
Phần II. Viết
Trong những chuyến tham quan các di tích lịch sử hay danh lam thắng cảnh, một số bạn trẻ có thói quen vứt rác bừa bãi và cho rằng: Việc làm này nhỏ nhặt, không gây ảnh hưởng gì đáng kể”. Em hãy viết bài văn trình bày ý kiến phản đối quan điểm trên.
Xác định vấn đề cần phản bác, triển khai bài văn nghị luận theo bố cục ba phần; kết hợp lí lẽ và bằng chứng thực tế để làm rõ tác hại của việc vứt rác bừa bãi
a. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
- Vấn đề nghị luận: thói quen vứt rác bừa bãi và cho rằng đó là việc nhỏ nhặt, không gây ảnh hưởng gì đáng kể.
- Bằng chứng: thực tế đời sống.
b. Thân bài
- Giải thích:
+ Việc nhỏ nhặt: việc vụn vặt, bị coi nhẹ (VD: vứt một mẩy giấy nhỏ, một chiếc túi nilon, một vỏ chai nhựa nhỏ,…).
+ Không gây ảnh hưởng gì đáng kể: không có tác động lớn, ngay lập tức.
=> Nội dung quan niệm: Một số bạn trẻ cho rằng việc vứt rác bừa bãi ở các khu di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh là việc nhỏ, không gây ảnh hưởng lớn.
- Bày tỏ ý kiến phản bác: (VD: Đó là quan niệm sai lầm/ Không đồng tình với quan điểm trên,…).
- Đưa ra lí lẽ và bằng chứng đa dạng để làm sáng tỏ ý kiến của mình. Ví dụ:
+ Một mẩu giấy, một vỏ chai nhựa xét về kích thước thì rất "nhỏ nhặt". Tuy nhiên, cái "nhỏ nhặt" ấy khi nhân lên với hàng nghìn khách tham quan sẽ trở thành một thảm họa môi trường.
+ Vứt rác bừa bãi ảnh gây ô nhiễm môi trường, hưởng đến cảnh quan và sự tôn nghiêm, sạch đẹp… của các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh.
+ Vứt rác bừa bãi ảnh hưởng đến hình ảnh quốc gia. (Khách du lịch quốc tế nhìn vào sẽ đánh giá ý thức văn hóa của người dân bản địa. Một hành động nhỏ nhưng gây ra cái nhìn xấu về cả một thế hệ).
+ Vứt rác bừa bãi ảnh gây tốn kém: Cần rất nhiều nhân công, kinh phí để thu gom và xử lý rác, đặc biệt tại những địa hình hiểm trở (núi cao, hang động).
+ Việc cho rằng "đó là việc nhỏ nhặt" thể hiện sự vô cảm, thiếu tôn trọng đối với công lao bảo tồn của cha ông và công sức của những người lao động; thể hiện thấy lối sống ích kỷ, thiếu trách nhiệm, chỉ biết đến sự tiện lợi của cá nhân mà quên đi lợi ích cộng đồng.
+…..
- Rút ra bài học
c. Kết bài: Khẳng định được vấn đề nghị luận.





