Đề thi giữ HK1 Ngữ văn 7 THCS Trương Công Định (2024-2025)
Phần I. Đọc hiểu
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
CÂY ĐA
Làng em có cây đa
Bên mương nước giữa đồng
Lá xanh dòng nước bạc
Biển lúa vàng mênh mông
Cây đa gọi gió đến
Cây đa vẫy chim về
Đa mỗi ngày một lớn
Và nuôi thêm nhiều ve
Dưới bóng đa, con trâu
Thong thả nhai hương lúa
Đủng đỉnh đàn bò về
Lông hồng như đống lửa
Trưa nắng tóe trên đầu
Các bác làm nghỉ mát
Vòm đa rì rào xanh
Ve kêu, muôn lá quạt...
(Trần Đăng Khoa)
Xác định thể thơ, phương thức biểu đạt chính của bài thơ trên?
Dựa vào số tiếng trong mỗi dòng thơ và nội dung chủ yếu của bài thơ để xác định thể thơ, phương thức biểu đạt.
- Thể loại: Thơ 5 chữ
- PTBĐ chính: Biểu cảm
Xác định hai phó từ và công dụng của dấu chấm lửng trong khổ thơ sau:
Trưa nắng tóe trên đầu
Các bác làm nghỉ mát
Vòm đa rì rào xanh
Ve kêu, muôn lá quạt...
Đọc kĩ khổ thơ, tìm những từ bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ hoặc từ chỉ số lượng để xác định phó từ; dựa vào tác dụng của dấu chấm lửng để giải thích.
- Hai phó từ: Trên, muôn
- Công dụng của dấu chấm lửng trong khổ thơ thứ 2: tỏ ý còn nhiều sự vật, hiện tượng chưa liệt kê hết.
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong hai câu thơ: “Cây đa gọi gió đến/ Cây đa vẫy chim về”
Đối chiếu các từ ngữ miêu tả cây đa với kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa, sau đó nêu tác dụng đối với hình ảnh và cảm xúc của bài thơ.
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa
- Tác dụng: Khiến cho mọi hoạt động của Cây đa trở nên sinh động, dịu dàng, chúng được sử dụng nhằm tăng tính hình tượng, diễn đạt của Cây đa.
Nêu nội dung chính của bài thơ trên?
Khái quát những hình ảnh, hoạt động và cảm xúc được thể hiện xuyên suốt bài thơ để xác định nội dung chính.
Nội dung chính của bài thơ: văn bản đề cập đến cây đa quê hương. Cây đa quê hương đã gắn bó với tuổi thơ của tác giả với rất nhiều kỉ niệm và được miêu tả rất thân thương, cổ kính. Đó chính là hình ảnh tác giả nhớ nhất khi nghĩ về quê hương.
Phần II. Viết
Viết đoạn văn ngắn (5-7 câu) trình bày cảm xúc của em về bài thơ trên.
Dựa vào hình ảnh cây đa, cảnh vật và hoạt động được miêu tả trong bài thơ để xác định cảm xúc của bản thân. Đoạn văn cần có câu mở đoạn, các câu triển khai cảm xúc và câu kết.
Bài thơ Cây đa của Trần Đăng Khoa đem đến cho em những cảm xúc thật gần gũi và thân thương. Hình ảnh cây đa hiện lên xanh mát giữa cánh đồng lúa rộng lớn của làng quê. Em thích nhất hình ảnh cây đa “gọi gió đến”, “vẫy chim về” vì nó khiến cây đa trở nên có hồn và gần gũi như một người bạn. Dưới bóng đa, đàn trâu, đàn bò thong thả trở về tạo nên một khung cảnh thật yên bình. Những người nông dân cũng được nghỉ ngơi dưới vòm cây xanh mát. Qua bài thơ, em cảm nhận được tình yêu quê hương tha thiết của tác giả. Bài thơ khiến em thêm yêu và trân trọng những cảnh vật bình dị của làng quê Việt Nam.
Lịch sử dân tộc Việt Nam ta là lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước. Trên hành trình gian lao ấy có bao tấm gương anh hùng đã để lại trong ta những yêu mến tự hào. Em hãy viết bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử mà em có dịp tìm hiểu.
- Giới thiệu được sự việc có thật liên quan đến nhân vật/sự kiện lịch sử.
- Nêu được không gian, thời gian diễn ra sự việc.
- Gợi lại bối cảnh câu chuyện, dấu tích liên quan đến nhân vật/sự kiện
- Thuật lại nội dung/diễn biến của sự việc có thật liên quan đến nhân vật/sự kiện lịch sử.
- Ý nghĩa, tác động của sự việc đối với đời sống hoặc đối với nhận thức về nhân vật và sự kiện.
- Khẳng định ý nghĩa của sự việc hoặc nêu cảm nhận của người viết về nhân vật/sự kiện.
Nhân dịp Tết năm Nhâm Dần, tôi đã có dịp ghé thăm Hội xuân Yên Tử ở thành phố Uông Bí (Quảng Ninh) để dự lễ dâng hương cầu nguyện quốc thái dân an Xuân Yên Tử 2022. Đây là một trong những lễ hội truyền thống mùa xuân lớn và kéo dài nhất cả nước. Lễ hội Xuân Yên Tử được diễn ra hằng năm, bắt đầu từ ngày mùng 10 Tết âm lịch kéo dài đến khoảng 3 tháng. Vào dịp này, hàng nghìn người dân ở khắp mọi nơi đến dâng hương, tưởng nhớ Phật Hoàng Trần Nhân Tông và người dân tham gia lễ hành hương lên Yên Tử.
Tôi được biết, Yên Tử là do Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đến tu hành và sáng tạo ra Thiền phái Trúc Lâm mang đậm màu sắc dân tộc Việt. Ông là một vị vua hiền minh, đức độ và vô cùng thương yêu dân chúng.
Đến với buổi lễ dâng hương xuân Yên Tử lòng tôi có một cảm xúc bồi hồi khó tả. Nơi dâng hương bắt đầu từ vườn tháp Huệ Quang lên đến chùa Hoa Yên. Vườn tháp Huệ Quang với 64 gọn thóp và mộ với bề dày lịch sử. Sân tháp được bao quanh với những bức tường cao rộng. Vị trí trung tâm của tháp đặt tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông bằng chất liệu cẩm thạch, trong tư thế một nhà sư ngồi thiền định, mình khoác áo cà sa hở ngực phải, các nếp áo chảy tràn ra mặt bệ tượng. Hình ảnh ấy vô cùng trang nghiêm mà cổ kính. Trong không khí trang nghiêm ấy, các vị sư thầy cùng rước lễ lên đến chùa Hoa Yên. Nơi có các nền kiến trúc mang một màu sắc rêu phong, cổ kính. Người dân bao quanh buổi lễ, các sư thầy và lãnh đạo tỉnh bắt đầu chủ trì buổi lễ.
Trong không khí trang nghiêm ấy, bài diễn văn cầu bình an được diễn ra. Mọi người ai nấy cũng cầm một nén hương để dâng lên Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Mong năm nay sẽ là một năm an khang, nhiều may mắn, quốc thái dân an.
Sau khi dâng hương xong, mọi người bắt đầu tản ra người đi đi ngắm cảnh xung quanh, người thì kéo nhau bắt đầu hành hương Yên Tử. Họ nô nức kéo nhau đi lên đỉnh chùa Đồng nơi có bức tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông vô cùng Vĩ đại.
Quả thật, công lao của Trần Nhân Tông đến nay vẫn còn lưu giữ nghìn đời. Chính vì vậy, lễ hội Xuân Yên Tử cũng là một trong những lễ hội để tưởng nhớ công lao của ông. Lễ hội Xuân Yên Tử từ lâu đã trở thành một truyền thống không thể thiếu của người dân Quảng Ninh nói riêng và người dân cả nước nói chung. Lễ hội này luôn thu hút đông đảo người dân và khách du lịch tham gia.





