Đề thi thử KSCL Văn 9 - Đề số 2
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
ÔNG NGOẠI (Trích)
(Tóm tắt đoạn đầu: Gia đình cậu mợ của Dung đi định cư nước ngoài. Mẹ Dung quyết định cho Dung sang ở với ông Ngoại để tiện bề trông nom ông. Dung dù không muốn nhưng vẫn nghe lời mẹ.)
Sang bên ấy được hai hôm, Dung chạy về mẹ, than thở lướt sướt: “Ở với ông ngoại buồn muốn chết, đi học về, mở karaoke lại sợ ồn, nói chưa được mấy câu thì hết chuyện. Chẳng lẽ con lại nói chuyện tình yêu với ông ngoại à? Bọn bạn không dám lại nhà chơi. Ông khó lắm. Con mở nhạc cũng ngại, con nấu cơm khét ông mắng cả buổi. Suốt ngày ông cứ lo tỉa tót cho mấy chậu kiểng1, mấy con cá vàng. Con hỏi: “Ngoại chăm sóc hoài không chán sao?”, ngoại nói “Cây cũng có linh hồn. Con không tin, ghé tai vào nghe thử, có cây nào than buồn, có cây nào thèm nghe Michael Jackson đâu”.
Mẹ cười:
- Con vì ông một chút, ông cũng vì con thôi, thử xem.
(...)
Thế nghĩa là có hai thế giới ở trong ngôi nhà. Thế giới của ông là mấy ông bạn già, là mấy chồng nhựt báo, là cái radio đâu hồi còn đánh nhau, là trầm tư suy ngẫm, là mảnh sân hoa trái. Thế giới của Dung là tiếng nhạc gào thét xập xình, là sắc màu xanh đỏ, là quả đất như nằm gọn trong bàn tay. Sáng nó dậy thật sớm để nấu cơm, sau đó đi học, chiều lại học, buổi tối nó vù xe đến bạn chơi hoặc về nhà nghe mấy đứa em cãi nhau ỏm tỏi. Hai thế giới vừa giành giựt vừa hoà tan nhau.
(...)
Hôm bữa Dung nói với ông:
- Sao ông Chín bên nhà rủ ngoại đi tham gia câu lạc bộ gì đó, ngoại không đi?
Ông nhìn Dung thật lâu: “Ngoại sợ con ở nhà một mình buồn”. Dung chột dạ, có bao giờ đi chơi mà mình nghĩ tới ông không.
( ... )
Có những sự thay đổi Dung không thể ngờ được. Bây giờ mỗi đêm Dung từở mình nghe ông ngoại ho khúc khắc. Nghe cây mai nhỏ nứt mình, này chổi. Dung nghiện hương trầm tối tối ông thắp lên bàn thờ bà ngoại. Lắm khi lũ em Dung sang, chúng nó phá phách quậy tung cả lên, Dung mắng, chúng nó trề môi “Chị hai khó như một bà già”, Dung giật mình. Có lẽ Dung đã quen với cái tĩnh lặng trong sân mà mỗi chiều Dung giúp ông tưới cây, cái khoảng không xanh lạc lõng trong khói bụi, đâu đó, trên tàng me già, dăm chú chim hót líu lo. Dung quen dáng ông ngoại với mái tóc bạc, với đôi mắt hõm, cái cằm vuông, mỗi tháng một lần cọc cạch lên phường nhận lương hưu. Có một điều Dung ngày càng nhận ra: tiếng ho của ông ngày càng khô và rời rạc như lời kêu cứu. ( ... )
Ngày 18 tháng 12, Dung mở tờ lịch mới, hôm nay là sinh nhật của nó. Hôm qua, mẹ cho Dung một món tiền kha khá, bọn bạn reo lên inh ỏi: “Party nghe Dung, làm xôm tụ, tụi này kéo lại”. Dung nói với ông, ông gật đầu:
- Ừ thì sinh nhật mà, con có mua bánh kem chưa? Ông biết làm đấy.
Dung tròn mắt:
- Thật ư?
Ông khẽ cốc đầu nó.
- Đừng có khinh ngoại.
Nói rồi hai ông cháu lăn vào khuấy bột, trộn sữa. Tay ông nhẹ nhàng, nắn nót mười tám nụ hồng trên mặt bánh, Dung thòm thèm mãi. Buổi sinh nhật thật rôm rả, bọn Dung khiêu vũ với nhau ông ngoại cũng nhảy, ông mặc chiếc áo màu xanh thắt nơ hoa rất đẹp. Lúc ông nắm tay nó, nhạc dạo bài Tango “Xa vắng”. Dung ngạc nhiên và buồn cười đến nỗi giẫm lên cả chân ông. Bọn bạn reo ầm lên, chúng khen bánh kem ngon, khen ông nhảy giỏi, Dung hãnh diện lắm ....
(Nguyễn Ngọc Tư, Ông ngoại, NXB Trẻ, 2001)
1 Chậu kiểng: Chậu cây cảnh
2 Nhựt báo: Báo ra hằng ngày
Xác định nhân vật chính trong đoạn trích.
Đọc và xác định nhân vật chính xuyên suốt văn bản
Nhân vật chính: Ông ngoại và Dung
Nêu tác dụng của việc tác giả lựa chọn ngôi kể thứ ba.
Dựa vào lời của người kể chuyện
Tác dụng của việc lựa chọn ngôi kể thứ ba:
+ Giúp câu chuyện được hiện lên một cách khách quan, đầy đủ, trọn vẹn.
+ Giúp tác giả dễ dàng miêu tả những diễn biến trong cuộc sống của các nhân vật, đặc biệt là sự thay đổi trong tâm lý của Dung.
+ Ngôi kể này cũng tạo ra khoảng cách giữa người kể và nhân vật, từ đó người đọc có thể hình dung được toàn cảnh và có cảm nhận sâu sắc hơn sự khác biệt giữa thế giới của ông ngoại và thế giới của Dung.
Chỉ ra những thay đổi của Dung từ khi bắt đầu sống với ông ngoại. Em hãy nhận xét về sự thay đổi đó.
Xác định những thay đổi của Dung từ khi bắt đầu sống với ông ngoại
- Từ khi bắt đầu sống với ông ngoại, Dung đã có những thay đổi rõ rệt:
+ Ban đầu, Dung cảm thấy ở với ông ngoại buồn muốn chết
+ Sau đó, Dung trở nên quen thuộc với sự yên tĩnh, thích nghi với lối sống của ông ngoại, và bắt đầu thấu hiểu, yêu thương ông hơn: Dung nghiện hương trầm, quen với cái tĩnh lặng ..., quen với dáng ông ngoại ...
- Sự thay đổi của Dung cho thấy quá trình trưởng thành trong tư duy và cảm xúc của cô bé. Dung không chỉ dần hiểu được tấm lòng của ông ngoại mà còn học cách chấp nhận và trân trọng những giá trị khác biệt, đồng thời thể hiện sự gắn kết đối với ông. Sự thay đổi này là một minh chứng cho việc: tình yêu thương chân thành có thể xóa bỏ những khác biệt giữa các thế hệ.
Phân tích tác dụng của biện pháp liệt kê được sử dụng trong đoạn trích sau:
Thế giới của ông là mấy ông bạn già, là mấy chồng nhựt báo, là cái radio đâu hồi còn đánh nhau, là trầm tư suy ngẫm, là mảnh sân hoa trái. Thế giới của Dung là tiếng nhạc gào thét xập xình, là sắc màu xanh đỏ, là quả đất như nằm gọn trong bàn tay.
Vận dụng kiến thức về biện pháp liệt kê
- Biện pháp: Liệt kê: Thế giới của ông là mấy ông bạn già, là mấy chồng nhựt báo, là cái radio đâu hồi còn đánh nhau, là trầm tư suy ngẫm, là mảnh sân hoa trái.
- Tác dụng:
+ Giúp cho thế giới của ông ngoại và thế giới của Dung được hiện lên một cách cụ thể, chi tiết.
+ Khiến câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn, có nhạc điệu
+ Thể hiện sự khách quan, thấu hiểu, cảm thông và tôn trọng của tác giả đối với hai thế giới hoàn toàn khác biệt.
Qua câu chuyện của Dung em rút ra được bài học gì cho bản thân?
Từ nội dung rút ra bài học phù hợp
Qua câu chuyện của Dung, em rút ra được bài học rằng trong cuộc sống chúng ta cần biết yêu thương, quan tâm và thấu hiểu ông bà, cha mẹ.
Phần II. Viết
Em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật ông ngoại trong văn bản ở phần Đọc - hiểu
Đọc kĩ văn bản
Xác định các chi tiết miêu tả nhân vật ông ngoại
- Nhân vật ông ngoại là nhân vật chính, đóng vai trò quan trọng, thể hiện chủ đề về tình cảm gia đình, sự kết nối giữa các thế hệ.
- Ông ngoại là một người giàu kinh nghiệm, sống điềm tĩnh và giản dị, là biểu tượng cho những giá trị gia đình truyền thống. Trái ngược với thế giới năng động, ồn ào của lớp trẻ, ông luôn chăm sóc những điều nhỏ nhặt như tỉa cây, nuôi cá, thể hiện tình yêu thiên nhiên và sự trầm lắng trong suy nghĩ. Ông cũng có những triết lý sống sâu sắc. Ông khuyên Dung hãy thử lắng nghe cây để hiểu rằng thiên nhiên cũng có linh hồn...
- Ông còn là người rất yêu thương cháu. Dù có vẻ nghiêm khắc nhưng ông luôn quan tâm đến Dung, thậm chí từ chối những cơ hội giao lưu cá nhân để ở bên cháu mình. Trong những khoảnh khắc quan trọng như sinh nhật Dung, ông còn khiến Dung và các bạn ngạc nhiên vởi sự nhiệt tình: nhảy Tango, làm bánh kem...
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật ông ngoại được xây dựng qua những chi tiết về hành động và lời nói. Biện pháp đối lập khắc họa rõ nét sự khác biệt về thế hệ nhưng cũng làm nổi bật sự đồng cảm và tình yêu thương...
- Đánh giá chung: Nhân vật ông ngoại không chỉ là một người ông gần gũi, quen thuộc trong các gia đình mà còn là biểu tượng cho những giá trị gia đình truyền thống trong bối cảnh hiện đại.
Trong đoạn trích Ông ngoại, Nguyễn Ngọc Tư đã đề cập đến một tình trạng phổ biến trong xã hội ngày nay là sự khác biệt giữa các thế hệ - hai thế giới - trong cùng một ngôi nhà. Vậy, cần làm gì để rút ngắn “khoảng cách thế hệ” trong gia đình?
Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trả lời cho câu hỏi trên
Xác định vấn đề cần nghị luận
Liên hệ thực tế
Vận dụng thao tác lập luận, kĩ năng viết bài
1. Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
2. Triển khai vấn đề nghị luận:
* Giải thích: Khoảng cách thế hệ trong gia đình: Là sự khác biệt trong quan điểm sống, suy nghĩ, và hành vi giữa các thế hệ khác nhau trong gia đình (ông bà, bố mẹ, con cái).
=> Vấn đề cách ứng xử phù hợp để tạo ra mối quan hệ bền vững với người thân trong gia đình.
* Luận điểm 1: Bàn bạc về các khía cạnh của vấn đề
- Thực trạng:
+ Con cái không muốn về nhà vì xung đột với bố mẹ; bố mẹ, ông bà không thấu hiểu con cái; anh chị em trong gia đình không thấu hiểu lẫn nhau,…
+ Bằng chứng
- Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân khách quan
+ Nguyên nhân chủ quan
- Tác hại:
+ Với gia đình:
+ Với xã hội:
- Đối thoại với ý kiến trái chiều hoặc mở rộng để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về vấn đề.
* Luận điểm 2: Giải pháp giải quyết vấn đề
- Giải pháp 1: Với gia đình:
+Con cái cần học cách tôn trọng và lắng nghe bố mẹ, thấu hiểu quan điểm và giá trị của thế hệ đi trước. Mặt khác, con cái cũng cần chủ động chia sẻ với bố mẹ về những khó khăn, ước mơ, và mục tiêu trong cuộc sống.
+ Bố mẹ cần tôn trọng quan điểm và sự lựa chọn của con cái; lắng nghe và mở lòng với sự thay đổi và tránh áp đặt suy nghĩ và quan điểm lên con cái; tạo điều kiện để cả gia đình có thể sinh hoạt chung, trao đổi, trò chuyện...
- Giải pháp 2:
+ Xã hội cần thúc đẩy các chương trình giáo dục và truyền thông về giá trị gia đình; tổ chức các hoạt động văn hóa gia đình; phát triển các trung tâm hỗ trợ gia đình. Xã hội có thể thiết lập các trung tâm hỗ trợ tâm lý, giáo dục gia đình, tư vấn cho cả bố mẹ và con cái để giải quyết những mâu thuẫn...
+ Bằng chứng: Dự án “Family Tech Time” tại Mỹ.
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng.
Lưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.





