Đề thi tham khảo học kì 2 Văn 11 - Đề số 8
I. ĐỌC HIỂU
Sương mù là một nét phong vận riêng của sông Hương, xuất hiện khoảng cuối năm đến đầu hạ, vào tinh mơ, cuối chiều và những đêm trăng lạnh; cũng nhiều khi ghé lại bất ngờ như một gã lãng du. Nhiều tháng dài thành phố xưa hư ảo trong sương, dòng sông mịt mù trôi trong cơn mê dài, chỉ còn những ánh lửa thuyền chài lay động ý thức giữa cõi thực và cõi mộng. Người ta ngồi nói chuyện với nhau trong khoang thuyền, chỉ lờ mờ nhìn thấy mặt nhau qua màn sương, trong khi bên ngoài những nét cong mềm của cầu Trường Tiền, những mái đầu đội nón của hoàng thành và những cây bàng, cây bồ đề trụi hết lá hai bên sông đều nhạt nhòa đi thành những nét xuất thần trên những bức tranh lụa cổ. Mùa này, những thiếu nữ Huế thường đi ra ngoài với áo trắng dài, nhìn cứ như những dáng người từ sương mù sinh ra. Dù đi xa hoặc phải thay đổi lối sống, họ vẫn giữ mãi màu áo ấy như kỷ niệm của tình yêu trinh bạch, và những tháng năm âm ỷ mộng đầy trời. Những tháng sương mù đã đưa Huế quay lại với linh hồn một cố đô sâu thẳm trong thời gian; và dù qua bao nhiêu thành phố trên thế giới, người ta vẫn giữ về Huế một ấn tượng riêng của tâm hồn mình, như trong một câu phương ngôn Nhật Bản: “đừng quấy động những gì đã yên tĩnh”.
Phan Bội Châu đã dành hết quãng đời “Ông già Bến Ngự” của mình để viết sách, và cả một khối lượng đồ sộ văn chương triết học của ông đã ra đời trong một lòng thuyền bềnh bồng trên sông Hương. Suốt một đời chọc trời khuấy nước, trở về làm Tô Đông Pha đánh bạn với dòng sông sương mù, Phan Bội Châu tìm thấy ở sông Hương một tâm hồn bè bạn vừa sáng suốt, vừa tinh nghịch để chia sẻ với ông những kinh nghiệm lịch sử làm cho triết nhân nheo mắt cười: “Hương ơi, e phải mày không - sông nọ hóa ra mình có”… Hơn bốn mươi năm sau ngày cụ Phan qua đời, tôi được gặp bà Trần Thị Nữ, người chèo đò cho cụ Phan suốt mười lăm năm ở Huế. Được biết trong bấy nhiêu năm, bà như đã quên hết chuỵên đời, chỉ giữ lại một tấm lòng cô trung với nhà yêu nước vĩ đại. Bà kể lại với mọi người đến thăm vô vàn những kỷ nịêm về cụ Phan, và nhiều đêm như người mộng du bà quanh quẩn giữa cây lá trong vườn, ngâm vang Hải Ngoại Huyết Thư trong tiếng đại bác dội vào thành phố. Một đêm trăng thời đệ nhị thế chiến, cụ Phan neo thuyền giữa sông Hương, chỗ gần cầu Gia Hội để hóng mát. Từ một con thuyền đâu đó chợt cất lên một câu hò lạ:“Biển Thái Bình Dương đang cơn sóng nổi - Chiếc thuyền em trôi nổi tựa cánh bèo. Sao không ra tay giúp chống đỡ chèo - Anh hùng sao lại nằm queo trong thuyền hò ơ, hò ơ…” Cụ Phan giật mình, bảo bà Nữ đi tìm người vừa hò câu mái nhì đến gặp: một cô gái mặc áo vá vai dịu dàng đứng vòng tay cúi đầu trước ông già Bến Ngự, Cụ móc hầu bao thưởng cô lái mấy giác bạc, rồi chắp tay vái tạ; suốt đêm ấy cụ Phan trằn trọc không ngủ.
(Trích Sử thi buồn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, NXB.Văn học, 1986)
Sương mù xuất hiện trên Sông Hương vào thời điểm nào?
Đọc kĩ đoạn văn đầu tiên, xác định thông tin trực tiếp về thời gian xuất hiện của sương mù trên sông Hương.
Sương mù trên sông Hương thường xuất hiện từ khoảng cuối năm đến đầu hạ, vào lúc tinh mơ, cuối chiều và những đêm trăng lạnh. Đôi khi, sương mù cũng xuất hiện bất ngờ.
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn sau: “Mùa này, những thiếu nữ Huế thường đi ra ngoài với áo trắng dài, nhìn cứ như những dáng người từ sương mù sinh ra.”
- Xác định biện pháp tu từ so sánh
- Chỉ ra các đối tượng được so sánh và phân tích tác dụng về nghệ thuật, nội dung, cảm xúc.
- Biện pháp tu từ: So sánh hình ảnh những thiếu nữ Huế mặc áo trắng dài với “những dáng người từ sương mù sinh ra”.
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, làm nổi bật vẻ đẹp thanh khiết, dịu dàng, mơ hồ và huyền ảo của những thiếu nữ Huế giữa màn sương.
+ Gợi ra sự hòa quyện giữa con người với cảnh sắc thiên nhiên, tạo nên vẻ đẹp thơ mộng, trầm mặc, đậm chất riêng của xứ Huế.
+ Thể hiện sự say mê, trân trọng và tình yêu sâu sắc của tác giả đối với vẻ đẹp con người và cảnh sắc Huế.
Tác giả muốn nói điều gì khi trích dẫn câu phương ngôn Nhật Bản vào trong văn bản: “đừng quấy động những gì đã yên tĩnh” ?
Phân tích ý nghĩa của câu phương ngôn trong mối liên hệ với hình ảnh sương mù, vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc của Huế và cảm xúc của tác giả.
Qua câu phương ngôn Nhật Bản, tác giả muốn nhấn mạnh cần biết trân trọng, gìn giữ vẻ đẹp yên bình, tĩnh lặng và những giá trị văn hóa, tinh thần đã làm nên bản sắc của Huế. Đồng thời, câu phương ngôn còn thể hiện mong muốn con người không làm xáo trộn vẻ đẹp trầm mặc, sâu lắng của cố đô, biết nâng niu những kí ức và giá trị tinh thần thiêng liêng gắn với vùng đất này.
Nhận xét về cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đoạn văn trên.
Dựa vào cách quan sát, miêu tả, liên tưởng, sử dụng ngôn ngữ và bộc lộ cảm xúc của tác giả để nhận xét về cái tôi trong văn bản kí.
Cái tôi của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đoạn trích mang những nét nổi bật sau:
- Cái tôi tài hoa, tinh tế: Có khả năng quan sát nhạy bén, cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng, huyền ảo của sông Hương và con người xứ Huế.
- Cái tôi giàu chất nghệ sĩ: Sử dụng những hình ảnh giàu sức gợi, liên tưởng độc đáo, ngôn ngữ giàu chất thơ để tái hiện cảnh sắc và không khí trầm mặc của cố đô.
- Cái tôi uyên bác, sâu sắc: Có vốn hiểu biết phong phú về lịch sử, văn hóa và con người Huế; biết kết nối cảnh sắc thiên nhiên với những câu chuyện lịch sử, những nhân vật như Phan Bội Châu.
- Cái tôi giàu tình yêu quê hương, đất nước: Thể hiện sự trân trọng đối với vẻ đẹp văn hóa, tâm hồn và truyền thống yêu nước của con người Việt Nam.
Thông điệp có ý nghĩa nhất mà anh/chị rút ra từ đoạn trích là gì? Vì sao?
- Rút ra một thông điệp phù hợp với nội dung văn bản
- Lí giải bằng những chi tiết trong đoạn trích và liên hệ với đời sống.
- Thông điệp: Mỗi người cần biết trân trọng, gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử và vẻ đẹp tâm hồn của quê hương, đất nước.
- Lí giải:
+ Những giá trị ấy tạo nên bản sắc riêng của mỗi vùng đất, nuôi dưỡng tâm hồn và lòng tự hào dân tộc.
+ Đoạn trích khắc họa vẻ đẹp thơ mộng, trầm mặc của sông Hương, xứ Huế; đồng thời ca ngợi tấm lòng yêu nước của Phan Bội Châu và sự thủy chung, kính trọng của bà Trần Thị Nữ.
+ Mỗi người cần có ý thức bảo tồn di sản văn hóa, tìm hiểu lịch sử và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
II. VIẾT
Đọc văn bản:
Vườn quê
Tác giả: Gió Phương Nam
Thảo thơm hoa trái vườn quê
Tiếng chim gọi nắng mưa về líu lo
Con thuyền bến vắng nằm mơ
Gió lay thức cả bãi bờ phù sa
Ngọt ngào khúc hát dân ca
Võng trưa vườn mẹ ơi à ru con
Lá reo bóng nắng xoay tròn
Vườn quê nâng giấc tâm hồn tuổi thơ.
(Nguồn: http:// poem.tkaraoke.com)
Anh (chị) hãy viết bài văn phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật bài thơ “Vườn quê” của tác giả Gió Phương Nam.
- Kiểu bài: Nghị luận văn học, phân tích và đánh giá chủ đề cùng những nét đặc sắc về nghệ thuật của một bài thơ.
- Nội dung cần làm rõ:
+ Chủ đề: Vẻ đẹp bình dị, thơ mộng của khu vườn quê và tình yêu, nỗi nhớ đối với quê hương, tuổi thơ.
+ Nghệ thuật: Thể thơ lục bát, hình ảnh gần gũi, ngôn ngữ giàu sức gợi, biện pháp tu từ nhân hóa, cách sử dụng âm thanh và hình ảnh gợi cảm giác, giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết.
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Gió Phương Nam và bài thơ Vườn quê.
- Nêu vấn đề nghị luận: Chủ đề sâu sắc cùng những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ.
2. Thân bài
a. Phân tích, đánh giá chủ đề của bài thơ
* Vẻ đẹp bình dị, thơ mộng và tràn đầy sức sống của vườn quê (khổ thơ 1)
- Hình ảnh: hoa trái, tiếng chim, con thuyền, bến vắng, gió, bãi bờ phù sa.
- Từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi:
+ “Thảo thơm hoa trái vườn quê”: Gợi hương vị ngọt lành, vẻ đẹp trù phú, thân thuộc của quê hương.
+ “Tiếng chim gọi nắng mưa về líu lo”: Gợi âm thanh vui tươi, sinh động của thiên nhiên.
+ “Con thuyền bến vắng nằm mơ”: Gợi không gian yên bình, thơ mộng.
+ “Gió lay thức cả bãi bờ phù sa”: Gợi sức sống và sự chuyển động nhẹ nhàng của cảnh vật.
=> Bức tranh quê hiện lên gần gũi, thanh bình, giàu sức sống, thể hiện tình yêu thiên nhiên và quê hương của tác giả.
* Vẻ đẹp của quê hương gắn với tình mẫu tử và những kí ức tuổi thơ (khổ thơ 2)
- Hình ảnh “khúc hát dân ca”, “võng trưa vườn mẹ”, “ơi à ru con”:
+ Gợi âm hưởng dân ca truyền thống và lời ru dịu dàng của mẹ.
+ Gợi không gian tuổi thơ êm đềm, bình yên trong vòng tay yêu thương của mẹ.
- Hình ảnh “Lá reo bóng nắng xoay tròn”: Gợi cảnh vật sinh động, tươi vui, tràn đầy sức sống.
- Câu thơ “Vườn quê nâng giấc tâm hồn tuổi thơ”:
+ Khẳng định vai trò của quê hương trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, lưu giữ những kỉ niệm đẹp.
+ Gợi sự gắn bó sâu sắc giữa con người với nơi mình sinh ra và lớn lên.
=> Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương, tình mẫu tử và sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống, những kí ức tuổi thơ.
- Đánh giá chung về chủ đề
+ Chủ đề gần gũi, giàu ý nghĩa, khơi gợi tình yêu thiên nhiên, gia đình và quê hương.
+ Gửi gắm thông điệp: Mỗi người cần biết trân trọng những điều bình dị, gìn giữ kí ức tuổi thơ và những giá trị tốt đẹp của quê hương.
b. Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật
- Thể thơ và nhịp điệu
+ Thể thơ lục bát truyền thống.
+ Nhịp thơ nhẹ nhàng, êm ái, tạo âm hưởng gần gũi với lời ru, dân ca.
- Hình ảnh thơ
+ Hình ảnh giản dị, thân thuộc: hoa trái, tiếng chim, con thuyền, bãi bờ phù sa, võng trưa, bóng nắng.
+ Gợi lên bức tranh quê thanh bình, giàu sức sống và những kỉ niệm tuổi thơ thân thương.
- Biện pháp tu từ
+ Nhân hóa: “con thuyền bến vắng nằm mơ”, “gió lay thức”, “lá reo”.
+ Tác dụng: Làm cảnh vật trở nên sinh động, gần gũi, có hồn; thể hiện sự giao hòa giữa thiên nhiên và tâm hồn con người.
- Ngôn ngữ và giọng điệu
+ Ngôn ngữ trong sáng, mộc mạc, giàu sức gợi hình, gợi cảm.
+ Kết hợp hình ảnh, âm thanh và hương vị, giúp bức tranh quê hiện lên sinh động.
+ Giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết, trìu mến, phù hợp với việc thể hiện tình yêu quê hương và kí ức tuổi thơ.
- Đánh giá chung về nghệ thuật
+ Các yếu tố nghệ thuật được sử dụng hài hòa, góp phần làm nổi bật chủ đề và cảm xúc của bài thơ.
+ Thể hiện khả năng quan sát tinh tế, tình cảm gắn bó của tác giả với quê hương.
3. Kết bài
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ





