Đề thi tham khảo học kì 2 Văn 11 - Đề số 7
I. ĐỌC HIỂU
“Viết là một cuộc thám hiểm.
Bạn bắt đầu từ số không và học trên đường đi”
E.L.DOCTOROW
Cách đây vài năm, một khảo sát cho biết có đến 81% người Mỹ cảm thấy có một cuốn sách trong đầu mình, và họ cho rằng mình nên viết nó ra. Tuy nhiên, một tác giả của hơn 20 cuốn sách đã viết trong một bài báo rằng, những người Mỹ đó tốt nhất đừng nên viết nó ra, vì ngày nay có quá nhiều cuốn sách hạng ba được xuất bản. Ông ta cho đó là sự hão huyền và khuyên mọi người “tiết kiệm giấy” bằng cách đừng viết ra những cuốn sách mà họ muốn, thậm chí đừng nghĩ đến. Hãy giữ nó trong giấc mơ của họ, nơi xứng đáng của nó.
Nhưng với tôi, quan điểm đó chỉ nhằm làm nản chí những người yếu bóng vía. Có lẽ nên tránh xa những nhà phê bình nghiêm khắc khi ta còn trẻ. Đôi khi, họ dập tắt mơ ước của ta không thương tiếc. Ước mơ có thể đưa ta đi rất xa. Chính ta, chứ không phải họ.
[…] Có một cuốn sách trong tâm hồn bạn, và tôi, tôi thực sự muốn đọc nó. Hãy ngồi vào bàn và viết. Tại sao bạn không thể viết một câu chuyện trẻ con, và cậu em họ khéo tay của bạn có thể vẽ minh họa cho nó? Tại sao bạn không viết lại câu chuyện bạn kể cho tôi nghe về những chuyến đi đặt bẫy thú trong rừng? Tại sao bạn không viết một cuốn sách kể về cuộc chiến tranh giữa quái vật và người ngoài hành tinh như bạn đang kể cho cháu bạn?
Không có biên giới nào cho đề tài. Chẳng có gì ngăn cản.
Hãy viết đi, trong khi viết, bạn sẽ tìm kiếm khi có nhu cầu và học thêm những kỹ thuật viết văn, bạn sẽ tự học thêm để chỉnh sửa văn phạm và chính tả của mình, bạn sẽ tự tìm cách sắp xếp các chương mục sao cho hợp lý, hoặc độc đáo, bạn sẽ tự tổ chức đường dây cốt truyện sao cho đơn giản, hay phức tạp, bạn sẽ thay đổi từ ngữ và cấu trúc sao cho dễ hiểu hơn, hay khó hiểu hơn, tuỳ theo ý bạn muốn. Bạn sẽ cảm thấy ưa thích những câu dài, hoặc ngắn. Chẳng có biên giới nào cho sự sáng tạo, miễn là bạn muốn vậy.
(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân, NXB Hội Nhà văn, tr. 148 - 150)
Xác định kiểu văn bản của đoạn trích trên.
Căn cứ vào mục đích giao tiếp, nội dung và cách triển khai của văn bản để xác định kiểu văn bản.
Đoạn trích thuộc kiểu văn bản nghị luận
Nêu ra 2 quan điểm khác nhau về vấn đề viết “cuốn sách trong đầu mình” được nhắc tới trong đoạn trích.
Đọc kĩ đoạn văn nêu hai ý kiến trái chiều, xác định nội dung cốt lõi của từng quan điểm.
Hai quan điểm khác nhau là:
- Quan điểm thứ nhất: Không nên viết cuốn sách mình ấp ủ vì có quá nhiều cuốn sách chất lượng thấp được xuất bản; việc viết sách có thể là biểu hiện của sự hão huyền.
- Quan điểm thứ hai: Nên mạnh dạn viết cuốn sách mình mong muốn, bởi ước mơ có thể đưa con người đi xa; mỗi người có thể vừa viết vừa học hỏi, rèn luyện và hoàn thiện khả năng sáng tạo của bản thân.
Anh/ Chị hiểu gì về những dòng thơ sau:
“Viết là một cuộc thám hiểm.
Bạn bắt đầu từ số không và học trên đường đi”
E. L. DOCTOROW
Giải thích ý nghĩa của hình ảnh, từ ngữ; từ đó khái quát thông điệp mà câu nói gửi gắm.
- “Viết là một cuộc thám hiểm”: Viết là hành trình khám phá những ý tưởng mới, thể hiện suy nghĩ, cảm xúc và khả năng sáng tạo của bản thân.
- “Bạn bắt đầu từ số không và học trên đường đi”: Khi bắt đầu viết, mỗi người có thể chưa có nhiều kiến thức, kinh nghiệm và kĩ năng, nhưng thông qua quá trình thực hành, tìm tòi, tiếp thu và chỉnh sửa, họ sẽ từng bước tiến bộ.
=> Hai dòng thơ khẳng định viết là một quá trình khám phá và học hỏi không ngừng. Mỗi người không nhất thiết phải hoàn thiện mọi kĩ năng ngay từ đầu mà cần mạnh dạn bắt tay vào thực hiện, kiên trì rèn luyện để trưởng thành và phát huy khả năng sáng tạo.
Phân tích tác dụng của những câu hỏi tu từ được in đậm trong đoạn trích.
- Xác định các câu hỏi tu từ
- Phân tích tác dụng về hình thức diễn đạt, nội dung và thái độ, tình cảm của người viết.
- Tạo giọng điệu gần gũi, tự nhiên, sinh động, khơi gợi sự suy ngẫm ở người đọc.
- Nhấn mạnh rằng mỗi người đều có thể tìm thấy đề tài sáng tác từ vốn sống, trải nghiệm và trí tưởng tượng của mình.
- Thể hiện sự khích lệ, tin tưởng vào khả năng sáng tạo của mỗi người; đồng thời thôi thúc người đọc vượt qua tâm lí e ngại, tự ti để mạnh dạn bắt đầu viết.
Quan điểm “Chẳng có biên giới nào cho sự sáng tạo, miễn là bạn muốn vậy.” gợi cho anh/ chị suy nghĩ gì?
- Giải thích ý nghĩa nhận định, nêu quan điểm cá nhân, đưa ra lí lẽ và dẫn chứng phù hợp
- Rút ra bài học nhận thức và hành động.
Gợi ý:
- Giải thích: Sáng tạo là khả năng tìm tòi, khám phá, tạo ra những ý tưởng hoặc cách làm mới mẻ, độc đáo.
- Bàn luận:
+ Mỗi người có thể phát huy khả năng sáng tạo nếu có đam mê, ý chí và tinh thần chủ động khám phá.
+ Cần vượt qua sự tự ti, nỗi sợ thất bại và lối suy nghĩ rập khuôn.
+ Sáng tạo không đồng nghĩa với làm mọi việc tùy ý mà phải dựa trên kiến thức, thực tiễn, đạo đức và trách nhiệm.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Nuôi dưỡng trí tò mò, tích cực học hỏi và tích lũy kiến thức.
+ Mạnh dạn thử nghiệm những ý tưởng mới, không ngại sai sót.
+ Kiên trì điều chỉnh, hoàn thiện ý tưởng và vận dụng sáng tạo vào học tập, cuộc sống.
II. VIẾT
Từ nội dung phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Cần làm gì để phát huy khả năng sáng tạo của bản thân?
- Xác định vấn đề nghị luận: Những việc cần làm để phát huy khả năng sáng tạo của bản thân.
- Vận dụng thao tác giải thích, phân tích, bình luận; đưa ra các giải pháp cụ thể, thiết thực.
- Triển khai đoạn văn theo cấu trúc: nêu vấn đề, bàn luận và rút ra bài học nhận thức, hành động.
1. Mở đoạn: Nêu vấn đề nghị luận
2. Thân đoạn:
- Giải thích: Sáng tạo là khả năng tìm tòi, hình thành những ý tưởng mới mẻ, độc đáo và tìm ra cách giải quyết vấn đề hiệu quả.
- Những việc cần làm để phát huy khả năng sáng tạo:
+ Nuôi dưỡng niềm đam mê, trí tò mò và tinh thần ham học hỏi.
+ Chủ động tích lũy kiến thức, đọc sách, quan sát cuộc sống và trải nghiệm thực tế để mở rộng hiểu biết.
+ Mạnh dạn suy nghĩ độc lập, đưa ra ý tưởng mới, không ngại thử nghiệm những cách làm khác biệt.
+ Kiên trì thực hiện ý tưởng, không nản lòng trước khó khăn, thất bại; xem sai lầm là cơ hội để rút kinh nghiệm.
+ Lắng nghe góp ý, tiếp thu những quan điểm khác nhau để hoàn thiện ý tưởng.
+ Vận dụng khả năng sáng tạo vào học tập, công việc và cuộc sống; bảo đảm sự sáng tạo gắn với thực tiễn, đạo đức và trách nhiệm.
- Mở rộng, phản đề: Phê phán lối suy nghĩ thụ động, ngại thay đổi, sợ thất bại hoặc chạy theo sự khác biệt một cách thiếu thực tế.
3. Kết đoạn: Khẳng định khả năng sáng tạo có thể được bồi đắp thông qua học hỏi và rèn luyện.
Viết bài văn thuyết minh đoạn trích sau:
Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều
Người lên ngựa, kẻ chia bào (1)
Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san(2).
Dặm hồng, bụi cuốn chinh an (3)
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
Người về, chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc(4), nửa soi dặm trường(5).
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học,1987, tr. 20)
Tóm lược: Sau những ngày tháng sống tủi nhục chốn lầu xanh. Thuý Kiều may mắn được Thúc Sinh yêu và chuộc thân khỏi nơi buôn hoa bán phấn. Hai người đã có khoảng thời gian sống với nhau rất hạnh phúc. Nhưng khi Kiều phát hiện Thúc Sinh đã có vợ, vốn là người hiểu chuyện nên nàng đã khuyên Thúc Sinh về quê để nói thật với vợ chuyện Sinh- Kiều, đoạn thơ trên là cảnh chia ly giữa Thuý Kiều và Thúc Sinh.
Chú thích:
(1) chia bào: tức là buông áo người đi.
(2) quan san: là cửa ải và núi non, ý nói cách núi non, tức xa cách. Màu quan san là màu của rừng núi xa xôi.
(3) chinh an: là yên ngựa của kẻ đi đường trường, nói việc đi đường xa.
(4) gối chiếc: gối đơn – ngụ ý chỉ sự cô đơn của người phụ nữa khi không có chồng hoặc xa chồng.
(5) dặm trường: đường đi dài và xa.
- Xác định đối tượng thuyết minh: Đoạn trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
- Vận dụng kiến thức về tác giả, tác phẩm, thể thơ lục bát, kết hợp giới thiệu hoàn cảnh đoạn trích, nội dung, nghệ thuật và giá trị của văn bản.
- Bố cục bài văn gồm ba phần: mở bài giới thiệu đối tượng; thân bài thuyết minh về vị trí, nội dung và nghệ thuật; kết bài khái quát giá trị đoạn trích.
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều.
- Giới thiệu đoạn trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều: tái hiện cảnh chia li giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh, qua đó thể hiện tâm trạng lưu luyến, cô đơn của con người khi phải xa cách.
2. Thân bài
a. Khái quát về tác giả, tác phẩm và đoạn trích
- Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, có đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam.
- Truyện Kiều là truyện thơ Nôm viết bằng thể thơ lục bát, gồm 3.254 câu, kể về cuộc đời nhiều biến cố của Thúy Kiều.
- Hoàn cảnh đoạn trích: Sau thời gian chung sống với Thúy Kiều, Thúc Sinh trở về quê để giải quyết chuyện gia đình theo lời khuyên của Kiều. Cuộc chia tay diễn ra trong tâm trạng lưu luyến, buồn thương.
b. Thuyết minh nội dung đoạn trích
* Bốn câu thơ đầu: Cảnh chia tay và nỗi buồn tiễn biệt
- Hai câu đầu:
+ Hình ảnh “người lên ngựa, kẻ chia bào” diễn tả khoảnh khắc chia tay, gợi sự lưu luyến giữa người đi và người ở lại.
+ Hình ảnh “rừng phong”, “màu quan san” gợi không gian mùa thu xa vắng, nhuốm màu buồn thương.
- Hai câu tiếp:
+ Hình ảnh “bụi cuốn chinh an” gợi hành trình xa xôi của người ra đi.
+ Hình ảnh “mấy ngàn dâu xanh” diễn tả bóng người dần khuất xa tầm mắt, nhấn mạnh khoảng cách và nỗi lưu luyến của người ở lại.
* Bốn câu thơ cuối: Nỗi cô đơn của người đi và người ở lại
- Hai câu:
+ “Người về, chiếc bóng năm canh” gợi sự cô đơn của Thúy Kiều khi trở về với không gian vắng lặng.
+ “Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi” diễn tả sự đơn độc của Thúc Sinh trên hành trình xa cách.
+ Phép đối giữa “người về” và “kẻ đi” làm nổi bật hoàn cảnh chia lìa của hai nhân vật.
- Hai câu cuối:
+ Hình ảnh “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” là hình ảnh ẩn dụ cho sự chia cắt, xa cách.
+ “Nửa in gối chiếc” gợi nỗi cô đơn của Thúy Kiều; “nửa soi dặm trường” gợi sự xa xôi của Thúc Sinh.
+ Hình ảnh vầng trăng bị chia đôi thể hiện nỗi buồn chia li và khát vọng đoàn viên.
* Thuyết minh đặc sắc nghệ thuật
- Thể thơ lục bát giàu nhạc điệu, phù hợp với việc diễn tả cảm xúc.
- Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình ảnh giàu sức gợi.
- Sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ: phép đối, ẩn dụ, câu hỏi tu từ.
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế, mượn cảnh vật để thể hiện tâm trạng nhân vật.
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, góp phần làm nổi bật nỗi buồn chia li.
* Đánh giá giá trị nội dung của đoạn trích
- Thể hiện tinh tế tâm trạng lưu luyến, cô đơn của Thúy Kiều và Thúc Sinh khi xa cách.
- Cho thấy tài năng nghệ thuật và khả năng thấu hiểu tâm lí con người của Nguyễn Du.
- Góp phần thể hiện giá trị nhân đạo của Truyện Kiều qua sự cảm thông với những khát vọng tình cảm chính đáng của con người.
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều.





