Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 11 - Đề số 10
I. ĐỌC HIỂU
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm?
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
(Kiều ở lầu Ngưng Bích, trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du, NXB Văn học, 2014)
Chú thích: Đoạn trích trên nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi biết mình bị bán vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức tự vẫn. Tú bà vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho.
Xác định thể thơ của đoạn trích trên.
Dựa vào số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần và ngắt nhịp để xác định thể thơ.
Đoạn trích được viết theo thể thơ lục bát.
Nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên là ai?
Xác định người trực tiếp cảm nhận, suy nghĩ, bộc lộ cảm xúc trong đoạn thơ.
Nhân vật trữ tình: Thúy Kiều
Anh/chị hiểu như thế nào về từ “Xuân” trong hai câu thơ: Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”?
- Đặt từ đó vào ngữ cảnh
- Xác định nghĩa thông thường và nghĩa được sử dụng trong câu thơ, đồng thời chỉ ra ý nghĩa biểu đạt.
- Nghĩa đen: “Xuân” có nghĩa là mùa xuân – mùa của sự tươi trẻ, tràn đầy sức sống.
- Nghĩa bóng: “Xuân” ở đây nghĩa là thanh xuân, tuổi trẻ của một cô gái => “Khóa xuân” có nghĩa là thanh xuân của Kiều bị giam cầm, bị kìm hãm trong chốn lầu xanh, mất đi tự do và tuổi trẻ.
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp cú được sử dụng trong đoạn trích trên.
Tìm các từ/cụm từ lặp lại nhiều lần, sau đó phân tích tác dụng của chúng.
- Điệp cú “buồn trông” xuất hiện ở bốn câu thơ cuối:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh.
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu da diết, trầm buồn; tạo sự liên kết giữa các câu thơ; khiến cảm xúc được dồn nén và tăng tiến.
+ Nhấn mạnh nỗi buồn, cô đơn, lo lắng, bơ vơ của Thúy Kiều.
Nhận xét của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích trên.
Phân tích nội dung đoạn trích để làm rõ tâm trạng và phẩm chất của Kiều.
Vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích:
- Nỗi nhớ thương sâu nặng: Kiều hướng về gia đình, lo lắng cho cha mẹ khi mình không còn bên cạnh.
- Tấm lòng chung thủy: Nhớ về Kim Trọng với tình yêu son sắt.
- Nỗi buồn và sự cô đơn: Cảnh thiên nhiên phản chiếu tâm trạng lẻ loi, bơ vơ, mất phương hướng.
- Khát vọng tự do, hạnh phúc nhưng lại bị kìm hãm bởi số phận nghiệt ngã.
II. VIẾT
Từ tâm trạng cô đơn, bơ vơ của Thúy Kiều trong đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về giá trị của nghị lực sống trong cuộc đời mỗi con người.
- Giải thích: Nghị lực sống là khả năng kiên trì, vượt qua khó khăn, thử thách để vươn lên trong cuộc sống.
- Bàn luận:
+ Nghị lực giúp con người mạnh mẽ đối mặt với nghịch cảnh.
+ Những người có nghị lực thường đạt được thành công và truyền cảm hứng cho xã hội.
+ Thiếu nghị lực dễ dẫn đến bi quan, bỏ cuộc trước khó khăn.
- Dẫn chứng: Những tấm gương có nghị lực vươn lên (Nick Vujicic, Helen Keller, thầy Nguyễn Ngọc Ký…).
- Bài học rút ra: Mỗi người cần rèn luyện nghị lực sống để làm chủ cuộc đời mình.
Trong cuộc sống, mỗi người đều phải đối diện với khó khăn, thử thách, và nghị lực sống chính là yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua nghịch cảnh để vươn tới thành công. Nghị lực sống là ý chí kiên trì, lòng dũng cảm và quyết tâm không bỏ cuộc dù gặp phải trở ngại. Người có nghị lực luôn sẵn sàng đối mặt với thất bại, biết đứng dậy sau vấp ngã và không ngừng nỗ lực để đạt được mục tiêu. Nhờ đó, họ có thể biến ước mơ thành hiện thực, khẳng định giá trị bản thân và truyền cảm hứng cho những người xung quanh. Chẳng hạn, Nick Vujicic – một chàng trai không tay không chân, đã vươn lên trở thành diễn giả nổi tiếng thế giới, hay Helen Keller dù khiếm thính và khiếm thị nhưng vẫn trở thành nhà văn, nhà hoạt động xã hội vĩ đại. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có những người thiếu ý chí, dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, sống dựa dẫm vào người khác, đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện nghị lực sống để vững vàng trước sóng gió, tạo dựng một cuộc đời ý nghĩa và thành công.
Viết bài văn nêu cảm nhận của anh/ chị về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích ở phần đọc – hiểu.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, nhận xét, đánh giá.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Biết lựa chọn, phân tích từ ngữ, hình ảnh, chi tiết tiêu biểu trong văn bản để làm sáng tỏ nhận xét.
1. Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm và đoạn trích + Nêu cảm nhận chung
2. Thân bài
a. Khái quát hoàn cảnh của Thúy Kiều
- Kiều bị lừa bán vào lầu xanh, từng tự vẫn nhưng không thành.
- Tú Bà đưa Kiều ra lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng.
- Kiều phải sống một mình giữa không gian xa lạ, trước một tương lai không biết sẽ đi về đâu.
=> Hoàn cảnh ấy là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tâm trạng cô đơn, đau khổ, bơ vơ của Kiều.
b. Tâm trạng cô đơn, buồn tủi của Thúy Kiều trước cảnh lầu Ngưng Bích
* Không gian lầu Ngưng Bích rộng lớn nhưng vắng vẻ
- “Khóa xuân”: Kiều bị giam hãm, tuổi xuân và hạnh phúc bị khóa chặt.
- Không gian “bốn bề bát ngát”, “xa trông” rộng lớn, mênh mông.
- Nhưng càng rộng lớn lại càng làm nổi bật sự nhỏ bé, cô độc của Kiều.
- “Non xa”, “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng” đều không có sự sống, không có bóng dáng con người.
* Nỗi cô đơn kéo dài theo thời gian
- “Mây sớm”, “đèn khuya”: thời gian tuần hoàn từ sáng đến tối.
- Kiều phải đối diện với chính mình trong cô đơn.
- “Bẽ bàng”: cảm giác tủi hổ, đau đớn, ê chề trước hoàn cảnh.
- “Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng”: cảnh vật và tâm trạng hòa quyện, tâm hồn Kiều như bị chia đôi.
c. Tâm trạng nhớ thương Kim Trọng và tình yêu thủy chung
- “Tưởng người”: Kiều nhớ Kim Trọng, nhớ những kỉ niệm tình yêu.
- “Dưới nguyệt chén đồng”: gợi lời thề nguyền gắn bó.
- Kiều hình dung Kim Trọng vẫn đang mong ngóng mình.
- “Rày trông mai chờ”: nỗi mong đợi kéo dài.
- Kiều đau đớn vì cho rằng mình đã phụ lời thề với Kim Trọng.
=> Qua nỗi nhớ, nổi bật vẻ đẹp thủy chung, son sắt, giàu tình nghĩa của Kiều.
d. Tâm trạng thương nhớ, lo lắng cho cha mẹ
- Kiều nhớ hình ảnh cha mẹ ngày ngày tựa cửa mong con.
- “Quạt nồng ấp lạnh”: gợi công lao chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ.
- Kiều xót xa vì không thể ở bên chăm sóc cha mẹ.
- “Mấy nắng mưa”: thời gian xa cách đã lâu.
- “Gốc tử đã vừa người ôm”: Kiều lo lắng cha mẹ ngày càng già yếu.
- Các câu hỏi tu từ thể hiện nỗi day dứt, xót xa, bất an.
=> Qua đó cho thấy Kiều là người hiếu thảo, giàu tình yêu thương và luôn hướng về gia đình.
e. Tâm trạng buồn đau, bơ vơ và lo âu trước tương lai
* Điệp cú “Buồn trông”
“Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”
- “Chiều hôm”: thời điểm dễ gợi nỗi buồn, cô đơn.
- “Cửa bể”: không gian rộng lớn, xa xăm.
- “Cánh buồm xa xa”: hình ảnh con người mong muốn một điểm tựa nhưng điểm tựa ấy lại quá xa vời.
=> Gợi nỗi cô đơn và khát vọng đoàn tụ.
* Hình ảnh “hoa trôi”
- “Ngọn nước mới sa”: dòng nước cuốn trôi mọi thứ.
- “Hoa trôi”: hình ảnh nhỏ bé, mong manh, không thể tự quyết định hướng đi.
- “Biết là về đâu?”: câu hỏi tu từ thể hiện sự hoang mang, vô định.
=> Hình ảnh hoa trôi có thể liên tưởng đến thân phận Thúy Kiều lênh đênh, bị dòng đời xô đẩy.
3. Kết bài
- Khẳng định đoạn trích đã khắc họa sâu sắc tâm trạng cô đơn, buồn tủi, nhớ thương, đau đớn, bơ vơ và lo âu của Thúy Kiều.
- Qua đó thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du, sự đồng cảm với số phận bất hạnh và sự trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ.





