Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 11 - Đề số 8
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
ĐONG TẤM LÒNG
Bà mẹ kể ngày xưa dì Chín nghèo nhứt gánh mình. Áng chừng còn ba tháng nữa tới đám giỗ bên nhà ngoại, Chín đi mua chục vịt con về nuôi. Vịt của Chín lớn lên không nhờ hột lúa nào (thứ đó dành cho bốn miệng người trong nhà còn không đủ), dì nuôi chúng bằng cám trộn bèo, cuối chiều có thêm mớ ốc bươu vàng tách vỏ bằm nhỏ. Đúng giỗ dì bắt cặp vịt xách về, cúng ông ngoại cái món ông ưa nhứt hồi còn sống; vịt luộc chấm mắm gừng. Có năm vịt còi vì ăn không đủ sức, lườn bén lẹm tóp khố. Có năm gió độc làm cả bầy lăn ra chết hết, Chín đi câu cá lóc mang về cúng. Và những gì Chín đem qua làm giỗ, ai cũng nâng niu cảm động. Con cá lóc với cái măng tre ấy cũng có giá trị ngang bằng với con heo quay cậu Hai chở từ ngoài chợ vô.
Với một gia đình đông con, tứ tán khắp nơi, đám giỗ ông ngoại là bữa tiệc huy hoàng. Hình dung linh hồn ông ăn hết từng ấy món, chắc lặc lè bay không nổi. Dọn mâm cúng đã thấy chóng mặt, ai cũng đem theo những thứ ngon nhất trong vườn nhà mình. Biết Chín có măng tre đầu mùa, mẹ mua giò heo, vậy là thành một món ngon. Không ai, kể cả Chín phải thấy tủi thân vì đã cúng ông già bằng những thứ còm nhom rẻ rề. Chẳng ai so đo chuyện nhiều ít, mà cũng không so đo được. Như Chín, làm sao tính được công đi bắt ốc vớt bèo nụm nịu nuôi bầy vịt, công xa xót khi chuột cống xông vào chuồng cắn cổ chết mấy con, công dầm mình đi cắm câu, đặt trúm.
Bà mẹ nói hồi xưa đám giỗ vui, giàu nghèo đề huê không khoảng cách. Ai đem gì về cúng cũng không quan trọng bằng đủ mặt. Đám giỗ giữa năm nhưng ngày từ Tết đã hẹn nhau về. Diễn ra chỉ hai ngày nhưng giỗ đã được nhen lên trong mỗi đứa con từ vài ba tháng trước. Người này trồng khóm, gieo cải sao cho ngay dịp giỗ đó là có rau trái lứa đầu, người kia để dành thứ nếp dẻo thơm gói bánh, cậu Út thì tự mình làm men, nấu rượu, cái thứ rượu trắng chưng đi cất lại để đám đàn ông uống không nhức đầu.
Hồi xưa đám giỗ vui, bà mẹ bần thần nói hoài. Khi đó Chín đã ra về. Nhắn Chín qua nhà là để cho dì ít tiền về đám giỗ ngoại. Bây giờ không cần nuôi vịt xách qua vì cậu nói không cần. Xóm mình đám giỗ, thôi nôi hay đầy tháng cũng bằng tiền tuốt. Đi bằng tiền gọn gàng và dễ dàng để nấu nướng những món đã tính trước.
Nhưng tiền thì đong đo được, bằng mắt thường. Nó làm tổn thương Chín, người sớm mai oằn vai gánh rau đi chợ, gánh thêm ông chồng hen suyển với bầy con đông. Giỗ năm ngoái Chín líu ríu đưa cậu em năm chục ngàn, sau nghe mợ bĩu môi, thời buổi tiền mất giá chỉ nhiêu đó có mua được gì, không thấm tháp vô đâu. Ngoài chợ người ta đi đám cưới nhà hàng tệ lắm cũng phải ba trăm rồi.
Đám tiệc hiển nhiên là không nói tới, dân xóm Chiếc thăm bệnh, cúng chùa cũng bằng tiền, chẳng cần bày vẽ bỏ bao thơ. Lì xì Tết trẻ con so đo ngay lộc người này nhiều hơn người trước. Dúi cho Chín ít tiền, bà mẹ biết không có nghĩa là đứa em gái mình không tổn thương. Bồn chồn rờ nắn cái túi áo bà ba mỏng dính, Chín nói giỗ năm sau có khi em không về.
Chung quanh người ta nhìn nhau, đo tấm lòng nhau bằng những mệnh giá của tờ giấy lạnh, Chín tránh làm sao khỏi xây xước. Vài nhà trong xóm còn vay nợ để đi đám được rỡ ràng mày mặt, cũng giống có quãng vay mượn mua dàn karaoke hoành tráng hơn nhà bên. Như có những cơn sóng thực dụng vô hình cứ vỗ mãi vào bờ xóm Chiếc, làm long lở cái gọi là tình nghĩa…
Con sông chảy xiết qua xóm Chiếc mang theo gì trong lòng nó, chỉ nó biết.
(Đong tấm lòng, Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Trẻ, 2019)
Nhân vật chính trong văn bản trên là ai?
Xác định nhân vật được tập trung miêu tả về hoàn cảnh, hành động, tâm trạng và qua đó thể hiện chủ đề của văn bản.
Nhân vật chính trong văn bản trên: Dì Chín
Những chi tiết nào gợi nên cuộc sống nghèo khó của nhân vật Dì Chín?
- Đọc kĩ văn bản, tìm các chi tiết trực tiếp miêu tả hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và những khó khăn mà dì Chín phải đối mặt.
- Có thể nhóm các chi tiết theo phương diện: cái nghèo trong sinh hoạt, cách chăn nuôi, lao động và cuộc sống gia đình.
Những chi tiết gợi nên cuộc sống nghèo khó của nhân vật Dì Chín: nghèo nhứt gánh mình, nuôi chúng (vịt) bằng cám trộn bèo, ốc bươu vàng tách vỏ bằm nhỏ, có năm vịt còi vì ăn không đủ sức, lườn bén lẹm tóp khố, có năm gió độc làm cả bầy lăn ra chết hết, bắt ốc vớt bèo nụm nịu nuôi bầy vịt, chuột cống xông vào chuồng cắn cổ chết mấy con, công dầm mình đi cắm câu, đặt trúm.
Chỉ ra và nêu tác dụng của những từ ngữ địa phương được sử dụng trong văn bản.
- Vận dụng kiến thức về từ ngữ địa phương: xác định những từ ngữ mang đặc trưng của một vùng miền, khác với cách dùng phổ thông.
- Phân tích tác dụng trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật.
Những từ ngữ địa phương được sử dụng trong văn bản: nhứt, áng chừng, hột, cặp vịt, xách về, ưa , rẻ rề, ông già , bao thơ
Anh/Chị hiểu thế nào về nghĩa của nhan đề “Đong tấm lòng”?
- Giải thích ý nghĩa của từ khóa “đong” trong nhan đề theo cả nghĩa thực và nghĩa biểu tượng.
- Đặt nhan đề trong mối quan hệ với các chi tiết về việc cho, nhận, cúng giỗ, tiền bạc và tình nghĩa trong văn bản.
Nhan đề “Đong tấm lòng”: nhan đề đa nghĩa, độc đáo thể hiện qua từ “đong”
- Nghĩa đen: tấm lòng có thể cân đo đong đếm.
- Nghĩa chuyển: đong đầy tình cảm, tấm lòng.
=> Nhan đề vừa ca ngợi những tấm lòng chân thành, giàu tình nghĩa, vừa gợi lên nỗi trăn trở trước sự thay đổi của cách con người nhìn nhận và “đo” tình cảm trong đời sống hiện đại
Anh/Chị có đồng tình với câu nói “Chung quanh người ta nhìn nhau, đo tấm lòng nhau bằng những mệnh giá của tờ giấy lạnh” không? Vì sao?
- Xác định vấn đề cần bàn luận trong câu nói: xu hướng đánh giá tình cảm con người bằng giá trị vật chất.
- Nêu rõ quan điểm đồng tình hoặc không đồng tình, sau đó dùng lí lẽ và dẫn chứng để giải thích.
- Cần nhìn nhận vấn đề có tính hai mặt: tiền bạc có giá trị thực tế nhưng không thể trở thành thước đo duy nhất của tình cảm.
Gợi ý: Theo hướng đồng tình với nhận định trên.
- Câu nói phản ánh một thực tế: trong cuộc sống, đôi khi con người có xu hướng đánh giá mức độ quan tâm, tình cảm của người khác dựa vào số tiền họ bỏ ra.
- Cách nhìn ấy dễ khiến các mối quan hệ trở nên thực dụng, làm tổn thương những người có hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn chân thành và hết lòng với người khác.
- Giá trị của một tấm lòng không chỉ nằm ở vật chất mà còn được thể hiện qua thời gian, công sức, sự quan tâm, sẻ chia và tình cảm chân thành.
- Tuy nhiên, tiền bạc vẫn là một phương tiện cần thiết để con người giúp đỡ, chăm lo cho nhau. Điều quan trọng là không nên lấy giá trị vật chất làm thước đo duy nhất cho tình cảm.
- Mỗi người cần biết trân trọng tấm lòng phía sau món quà, biết sẻ chia và tránh so sánh, tính toán trong các mối quan hệ.
II. VIẾT
Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận phân tích nội dung và nghệ thuật của tám câu hát sau trong bài hát “Sống như những đóa hoa” của nhạc sỹ Tạ Quang Thắng1:
[…] Dù rằng tôi vẫn biết rằng gian khó đang chờ
Rằng nếu tôi bước tiếp con đường này sẽ không dễ dàng
Chẳng gì ngăn được tôi và những ước mơ này
Vì tôi yêu lắm lắm cuộc đời và tôi tin vào con tim tôi.
Và tôi sống như đóa hoa này, tỏa ngát hương thơm cho đời
Sống với nỗi khát khao rằng được hiến dâng cho cuộc đời
Hôm nay dẫu có gian nan thì ngày mai là ngày tươi sáng hơn
Tôi sẽ viết nên câu chuyện của cuộc đời riêng tôi.
1 Tạ Quang Thắng là một nam ca sĩ người Việt Nam, từng giành được 4 đề cử cho giải Cống hiến. Bài hát “Sống như những đóa hoa” nằm trong album cùng tên phát hành năm 2013, lời bài hát chất chứa những tâm sự sâu lắng, khát khao của những người khuyết tật không được hưởng hạnh phúc trọn vẹn ngay từ lúc mới sinh. Nhưng họ đã vươn lên bằng ý chí, nghị lực sống, trở thành những đóa hoa tỏa ngát hương thơm.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận phân tích một đoạn bài hát, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh và đánh giá.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: nội dung và nghệ thuật của tám câu hát trong bài “Sống như những đóa hoa”.
- Phân tích sự kết hợp giữa lí tưởng sống, nghị lực vượt qua gian khó, khát vọng cống hiến với các yếu tố nghệ thuật như từ ngữ, hình ảnh, điệp cấu trúc, cách diễn đạt và nhịp điệu.
- Bố cục ba phần rõ ràng; lập luận mạch lạc, dẫn chứng chính xác; có nhận xét, đánh giá và liên hệ phù hợp.
1. Mở bài
- Giới thiệu nhạc sĩ Tạ Quang Thắng và bài hát “Sống như những đóa hoa”.
- Giới thiệu khái quát đoạn trích: tám câu hát thể hiện một tinh thần sống tích cực, bản lĩnh trước gian khó, niềm tin vào tương lai và khát vọng cống hiến.
2. Thân bài
a. Giới thiệu chung về đoạn bài hát
- Đoạn trích gồm tám câu hát, có thể chia thành hai phần:
- Bốn câu đầu: thể hiện bản lĩnh, ý chí và niềm tin khi bước đi trên con đường đã lựa chọn.
- Bốn câu sau: thể hiện khát vọng sống đẹp, sống có ích, cống hiến và hướng tới tương lai.
b. Phân tích bốn câu hát đầu: Vững tin bước tiếp trên con đường đã chọn
- Hai câu hát đầu:
+ Nhân vật trữ tình nhận thức rõ những gian khó và thử thách đang chờ đợi phía trước.
+ Các từ ngữ “gian khó”, “không dễ dàng” cho thấy con đường thực hiện ước mơ không bằng phẳng. Tuy nhiên, nhân vật trữ tình không bi quan, sợ hãi hay né tránh, mà sẵn sàng bước tiếp.
- Câu hát “Chẳng gì ngăn được tôi và những ước mơ này”:
+ Khẳng định ý chí mạnh mẽ và quyết tâm theo đuổi ước mơ.
+ Con người không để hoàn cảnh trở thành rào cản đối với khát vọng của mình.
- Câu hát “Vì tôi yêu lắm lắm cuộc đời và tôi tin vào con tim tôi”:
+ Thể hiện tình yêu tha thiết đối với cuộc sống.
+ “Tin vào con tim tôi” thể hiện niềm tin vào bản thân, vào lựa chọn và ước mơ của mình.
=> Bốn câu hát đầu ca ngợi bản lĩnh, nghị lực và niềm tin của con người trước nghịch cảnh.
c. Phân tích bốn câu hát sau: Khát vọng sống đẹp, sống có ích và cống hiến
- Hình ảnh “đóa hoa” biểu tượng cho vẻ đẹp và những giá trị tốt đẹp mà con người mang đến cho cuộc đời.
- Khát vọng được sống có ích, được cống hiến cho cộng đồng.
- Giữ niềm tin, hi vọng vào một tương lai tươi sáng dù hiện tại còn gian nan.
- Ý thức tự chủ, quyết tâm tự viết nên câu chuyện cuộc đời mình.
=> Bốn câu hát sau khẳng định khát vọng sống đẹp, sống có ích, biết cống hiến, giữ niềm tin và chủ động tạo dựng tương lai.
d. Đặc sắc nghệ thuật
- Hình ảnh giàu tính biểu tượng: “đóa hoa”, “tỏa ngát hương thơm”.
- Biện pháp tu từ: so sánh, điệp từ, điệp cấu trúc, đối lập.
- Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, giàu sức truyền cảm.
- Giọng điệu chân thành, tha thiết nhưng mạnh mẽ, tràn đầy niềm tin.
3. Kết bài
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của tám câu hát.





