Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 11 - Đề số 7
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(1) Giống như đống lửa rơm nghi ngút khói bên đường, những cái chợ nhỏ làm ấm lòng kẻ rong ruổi trên những con đường đầy bụi và sương, nắng và gió.
[...]
(2)Chợ lúc nào cũng nhóm ngay đầu cầu, trước cơ quan xã hay đầu cống đá vào xóm kinh. Như người phụ nữ chân quê, chợ nhỏ nhoi, hiền hậu, trầm tính dịu dàng. Mấy rổ hàng con con, mươi người phụ nữ tay lấm áo lem ngồi với nhau là thành chợ, đông nữa, hai ba mươi người cũng gọi là chợ. Không cần lặn lội khuya lơ khuya lắc như đi chợ thị xã, cứ chờ cho sáng ra bắc nồi cơm lên bếp cái đã, rồi đủng đỉnh xách hàng ra chợ. Đã hiểu nhau về hết thảy nỗi nhọc nhằn nên người mua không nặng nề mặc cả bon chen, người bán cũng chẳng đanh đá chua ngoa như kẻ chợ, hình như chợ họp chỉ để trao đổi, san sẻ với nhau những gì mình có. Bán đi những trái dừa khô để mua lại mớ rau càng cua về trộn dầu giấm chấm mắm kho. Bán mấy trái khổ qua đắng để mua ít đỉnh cải bẹ xanh về nấu với mớ cá rô
mề mới giăng lưới được sáng nay. Cả cá, cả rau, cả trái đều bán theo mở, hiếm hoi lắm có dì có được cây cân đòn loại 12 kg, trái cân lò dò đặt lên cái đòn đã mòn những khía, tỏ con mắt cũng không biết số ký nằm đâu. Ôi, có hề gì chuyện nặng nhẹ đong đo, lòng người ta tin nhau đầy ắp kia mà. Buổi sáng sao mà dậy mùi thơm nồng hăng của rau húng lủi, húng cây, rau cần nước, cần rừng. Bày ra đó, không phải chăm chăm trông chừng hàng hoá, chị em chụm lại rôm rả với nhau chuyện chồng con, chuyện làng xóm, ruộng lúa, vườn cây,... (chuyện xóm quê mà, nói biết chừng nào cho hết). Thành ra chợ không chỉ bán gà, bán cá, bán rau củ trong vườn nhà mà còn gửi gắm thông tin cho nhau nên chợ ít người mà vui, mà thắm đượm nghĩa tình cũng vì lẽ đó.
(3) Chợ không chỉ độc đáo vì bản sắc bình dị, nó còn độc đáo ở những mặt hàng mà nó bày ra. Thì mớ tép rong ôm một bụng trứng xanh rờn còn ướt rượt nước mới cất vó từ dưới kinh lên đó; thì mở cá lòng tong, lìm kìm, cá mè con con nhảy tung nhảy toé, nhảy đến tróc lớp vảy óng ánh ra; thì kìa, rổ trái giác trái tròn tròn, bóng mấy như viên đạn cu ly¹; rồi những cọng năng trắng muốt thơm ngai ngái mùi bùn, mùi nước trên đồng;... Những thứ này, ở thành phố có thèm cũng chịu thua, có lang thang hết chợ này sang chợ khác tìm kiếm tảo tần chưa chắc có.
(4) Trên những con đường còn lơ thơ nhà, lơ thơ hàng quán, đi một đoạn xa ơi là xa, thèm hơi người thì gặp chợ, hỏi làm sao không vui. (...) Bây giờ có kéo nhau xuống đập dưới kia mà nhóm chợ, anh bạn mình làm sao mà trông được cái cổ cao cao, cái cười giòn tan, tươi tắn của cô nhỏ bán hàng, rồi nhớ hoài, nghe ngọt ngào hoài? Thì ra giữa những quãng đường xa ngái, chợ còn có nhiệm vụ là nhóm lên một bếp lửa đời, cho cuộc hành trình bớt xa đi.
(5) Tôi lần nào qua chợ cũng giật mình, làm như gặp lại người nào đó, mà lâu lắm rất quen nhau. Hình như má, hình như chị, mà hình như giống hệt mình đang ngồi đó, quanh mình ngọt ngào buổi sớm mai trong.
(“Chợ bên đường” – Nguyễn Ngọc Tư, in trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, Tp. HCM, 2020)
Chú thích:
- Nguyễn Ngọc Tư: sinh năm 1976, quê ở Cà Mau, là nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam. Nguyễn Ngọc Tư thường viết về những điều bình dị, gần gũi xung quanh cuộc sống của mình. Giọng văn chị đậm chất Nam Bộ, là giọng kể mềm mại mà thâm trầm, sâu cay về những cuộc đời éo le, những số phận chìm nổi. Cái chất miền quê sông nước ngấm vào các tác phẩm, thấm đẫm cái tình của làng, của đất, của những con người chân chất hồn hậu nhưng ít nhiều gặp những bất hạnh.
- Viên đạn cu ly: viên bi thủy tinh mà trẻ con thường chơi.
Trong văn bản, chợ được so sánh với những hình ảnh nào?
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh, xác định các hình ảnh được dùng để đối chiếu với đối tượng “chợ”.
Chợ được so sánh với những hình ảnh: đống lửa rơm nghi ngút khói bên đường, người phụ nữ chân quê.
Ghi lại một câu văn có yếu tố tự sự và một câu văn có yếu tố trữ tình trong đoạn văn số (2).
- Vận dụng kiến thức về các yếu tố tự sự và trữ tình trong văn bản.
- Yếu tố tự sự thường thể hiện qua việc kể, thuật lại sự việc; yếu tố trữ tình thể hiện qua cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của người viết.
- Câu văn có yếu tố tự sự: Chợ lúc nào cũng nhóm ngay đầu cầu, trước cơ quan xã hay đầu cống đá vào xóm kinh.
- Câu văn có yếu tố trữ tình: Ôi, có hề gì chuyện nặng nhẹ đong đo, lòng người ta tin nhau đầy ắp kia mà.
Giải thích nghĩa của từ in đậm trong câu văn sau và cho biết cách giải thích nghĩa của từ: Giống như đống lửa rơm nghi ngút khói bên đường, những cái chợ nhỏ làm ấm lòng kẻ rong ruổi trên những con đường đầy bụi và sương, nắng và gió.
Vận dụng kiến thức về giải thích nghĩa của từ, xác định nghĩa của từ dựa vào đặc điểm, trạng thái mà từ biểu thị và nhận diện cách giải thích.
- “Nghi ngút”: chỉ trạng thái khói hoặc hơi bốc lên nhiều, liên tục và tỏa ra thành từng lớp dày.
- Cách giải thích nghĩa: Dùng nội dung mà từ biểu thị để giải thích nghĩa của từ, cụ thể là nêu đặc điểm, trạng thái của khói khi bốc lên.
Nêu cảm hứng chủ đạo của văn bản trên.
Vận dụng kĩ năng xác định cảm hứng chủ đạo, khái quát cảm xúc, tình cảm xuyên suốt của người viết đối với đối tượng được nói đến.
Cảm hứng chủ đạo của văn bản: Tình yêu, sự trân trọng và hoài niệm đối với cuộc sống giản dị, mộc mạc, tình người nồng hậu ở những cái chợ ven đường.
Từ văn bản trên, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của tình người trong cuộc sống. (Viết khoảng 4 – 6 dòng)
- Vận dụng kĩ năng rút ra vấn đề từ văn bản và trình bày suy nghĩ ngắn gọn.
- Nêu ý nghĩa của tình người, kết hợp lí lẽ và liên hệ thực tế.
Gợi ý: Có thể triển khai:
- Tình người là sự yêu thương, đồng cảm, sẻ chia và giúp đỡ giữa con người với con người.
- Tình người giúp con người cảm thấy được kết nối, có thêm điểm tựa tinh thần trong cuộc sống.
- Sự yêu thương, sẻ chia giúp con người vượt qua khó khăn và làm cho cộng đồng trở nên gắn kết, nhân ái hơn.
- Vì vậy, mỗi người cần biết quan tâm, chia sẻ với những người xung quanh, bắt đầu từ những hành động nhỏ trong cuộc sống hằng ngày.
II. VIẾT
Viết bài văn thuyết minh về một tác phẩm văn học mà em tâm đắc
- Xác định đúng đối tượng thuyết minh, giới thiệu được những thông tin cơ bản về tác giả, tác phẩm, nội dung, nghệ thuật và giá trị của tác phẩm.
- Lựa chọn thông tin chính xác, tiêu biểu, kết hợp với các chi tiết, hình ảnh, sự kiện trong tác phẩm để làm rõ nội dung thuyết minh.
- Bài viết cần bảo đảm bố cục ba phần, các ý được sắp xếp hợp lí, trình bày theo trình tự logic; diễn đạt trong sáng, mạch lạc.
1. Mở bài
Giới thiệu Nguyễn Huy Thiệp, truyện ngắn Muối của rừng
2. Thân bài
a. Thông tin khái quát về tác phẩm
- Tác giả Nguyễn Huy Thiệp:
+ Sinh năm 1950, mất năm 2021.
+ Là nhà văn có vị trí nổi bật trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới.
+ Sáng tác ở nhiều thể loại nhưng được biết đến nhiều nhất với truyện ngắn.
+ Đặc điểm sáng tác:
- Truyện ngắn “Muối của rừng”:
+ Nhân vật trung tâm: ông Diểu.
+ Tóm tắt:
b. Đặc sắc về nội dung
* Tác phẩm đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên
- Ban đầu, ông Diểu nhìn thiên nhiên chủ yếu từ góc độ của một người đi săn:
+ Vào rừng để săn bắn.
+ Con vật trở thành đối tượng để chinh phục.
- Tuy nhiên, trong quá trình chứng kiến đời sống của gia đình khỉ, ông dần nhận ra:
+ Muôn loài cũng có tình cảm.
+ Động vật có sự gắn bó, yêu thương và bản năng bảo vệ đồng loại.
+ Thiên nhiên không chỉ là nơi con người khai thác mà còn là một thế giới sống cần được tôn trọng.
* Hành trình thay đổi nhận thức của nhân vật ông Diểu
- Ban đầu: ông Diểu chủ động săn bắn, thể hiện tâm thế của con người muốn chinh phục tự nhiên.
- Trong cuộc săn: những gì diễn ra trước mắt khiến ông dần bị tác động về mặt cảm xúc.
- Sau đó: ông không còn nhìn con vật đơn thuần như một “con mồi”.
- Cuối cùng: sự thay đổi trong hành động cho thấy sự thức tỉnh của lòng trắc ẩn và lương tri.
=> Nhân vật ông Diểu giúp tác phẩm khẳng định: con người có thể thay đổi khi biết quan sát, đồng cảm và nhận ra giá trị của sự sống.
* Ý nghĩa của hình ảnh “muối của rừng”
- “Muối của rừng” trước hết là một hình ảnh gắn với thế giới tự nhiên trong tác phẩm.
- Đồng thời, hình ảnh này mang ý nghĩa biểu tượng:- Gợi vẻ đẹp kì diệu, bí ẩn của thiên nhiên.
+ Gợi sự sống và những giá trị tinh khiết mà con người có thể nhận ra khi hòa mình vào thiên nhiên.
+ Có thể hiểu như một dấu hiệu của sự hồi sinh, thanh lọc và thức tỉnh.
=> Đặt hình ảnh này ở cuối truyện giúp câu chuyện có dư âm, khiến người đọc tiếp tục suy nghĩ về hành trình thay đổi của ông Diểu.
c. Đặc sắc về nghệ thuật
- Xây dựng tình huống truyện: Tình huống một chuyến đi săn tưởng như bình thường nhưng lại tạo điều kiện để nhân vật trải qua một sự thay đổi về nhận thức. Qua đó, tư tưởng của tác phẩm được thể hiện tự nhiên, không cần lời giáo huấn trực tiếp.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật ông Diểu được khắc họa chủ yếu qua: Hành động, quan sát, phản ứng trước những sự việc xảy ra, sự thay đổi trong tâm trạng và cách ứng xử.
- Cách kể chuyện và ngôn ngữ: Cách kể chuyện tương đối tự nhiên, ngắn gọn; chi tiết được lựa chọn có sức gợi; ngôn ngữ giàu tính tạo hình nhưng không cầu kì.
d. Lí do em tâm đắc với tác phẩm
- Tác phẩm khiến người đọc suy nghĩ sâu sắc về cách con người đối xử với thiên nhiên.
- Câu chuyện đơn giản nhưng tạo ra sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật.
- Hình ảnh gia đình khỉ giúp người đọc nhận ra rằng sự sống nào cũng có giá trị.
- Tác phẩm có ý nghĩa với cuộc sống hôm nay khi vấn đề bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm.
3. Kết bài
Khẳng định giá trị truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp và đưa ra lời khuyến khích người đọc tìm hiểu về tác phẩm và tác giả





