Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 11 - Đề số 6
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Đang cho con bú. Út bỗng nghe thấy tiếng gì như tiếng người ngáy trên nóc nhà. Trời đất tối đen. Anh Tịch đi vắng. Đặt con xuống, chị cầm lấy cái đòn gánh. Đến gần cái giàn gác góc nhà, tiếng ngáy rõ hơn. Út chọc lên. Một con người cựa mình, rồi nhảy xuống.
- Anh Hai!
Anh Hai ra hiệu cho út im lặng. Đó là anh Hai Tấn, một cán bộ cách mạng, giặc lùng bắt cả năm nay. Út vui mừng, vừa la:
- Anh còn sống thiệt hả, anh Hai?
- Tôi còn đây.
Anh cho Út biết anh đã theo anh Tịch về đây ở mấy bữa nay, nhưng còn bí mật, chưa dám ra mắt Út, Út hỏi:
- Đằng mình vẫn còn phải không anh?
- Thiệt hả anh?
Út muốn reo lên. Anh Hai phải ngăn lại. Út giận anh Tịch lắm. Sáng, anh Tịch đi đặt câu về, chị nói, muốn khóc:
- Tôi đánh lại địa chủ, bị nó lột trần truồng, chạy về gặp anh, giờ anh coi tôi thiếu hiểu hơn anh hả?
Anh Tịch phải năn nỉ mãi. Cũng bởi Út hay nói lô la thẳng ruột ngựa, nên anh ấy sợ. Út biết vậy.
Anh Tịch dựng lại buồng thật kín. Ngày ngày Út đi chợ, nấu cơm bưng tới tận chỗ cho anh Hai ăn. Bọn lính tới nhà rà rễ, Út mua rượu, gà xách sang nhà bên cạnh, dụ nó sang bên đó. Giặc bố liên miên. Ruộng đất cách mạng cho, nó cướp lại hết. Vào nhà ai, chúng muốn đào đâu, cạy đâu cũng phải chịu. Đêm đêm, chúng tự do bao xóm, bắt người, tra tấn. Chúng thảy[11] vào nhà Út tấm bảng sơn "Nhà tôi không chứa Việt cộng", bắt mua treo trong nhà. Anh Hai vẫn ở đó. Đêm đêm, anh cùng anh Tịch đi công tác. Út ở nhà nằm võng, đưa con, nghe ngóng, chờ cửa với một nỗi mừng vô hạn, vì cách mạng của mình vẫn tiếp tục, hai vợ chồng Út vẫn được làm việc. Cái công việc mà nếu phải ngưng lại một lúc nào đó thì cả hai vợ chồng sẽ cảm thấy lẻ loi, trơ trọi, buồn khổ biết chừng nào.
Ít lâu sau, anh Hai đổi chỗ ở. Lâu lắm Út không được tin gì về anh. Một buổi chiều, đang lục cơm nguội cho con, Út bỗng thấy bọn lính lôi anh Hai đi ngang Út sững sờ, cái muỗng trong tay rơi xuống đất. Anh Hai bị nó trói chéo cánh, ngực bầm đen. Anh không nhìn Út, nhưng lại mỉm cười như chào. Nước mắt Út trào ra. Anh Tịch đi vắng. Mình phải làm gì đây? Chị suy nghĩ mà chết đứng trong ruột.
Tới đầu xóm, bọn lính kéo vào một nhà dân, nhậu. Chúng cười giỡn ầm ĩ. Ngoài đường chỉ có anh Hai Tấn bị trói ngồi đó và một đám lính gác dở say. Bỏ con nằm nhà, Út mò đến. Gần tới nơi, Út bỗng nghe thấy tiếng giặc hô hoán và bắn ầm ĩ. Anh Hai chạy được rồi! Út mừng, trống ngực đập từng tưng. Giặc bắt cả xóm ra đốt đuốc, nổi trống mõ, bao giáp vòng, vạch từng kẽ lá đi tìm. Út nghĩ anh Hai chạy ra chỗ đó chứ không đâu cả. Chỗ đó, trước đây, Út biết rồi.
Chạy một hơi lên xóm Đậu, vòng xuống Rạch Bờ, Út mượn xuồng đâm sang ngang. Chị vừa bơi vừa vái "ông Bổn" cho chị cứu được anh Hai, chị sẽ ăn chay mười ngày. Đằng kia, bọn lính vẫn ra sức tìm kiếm, bắn đùng đùng.
Cặp xuồng vào bờ, Út mò mẫm vạch tìm từ bụi cây này tới bụi khác. Trời tối đen. Rạ rô, cóc kèn cào trên mặt. Út ghé sát mặt xuống đất vừa trườn vừa gọi:
- Anh Hai! Anh Hai! Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Tiếng gọi nhẹ như hơi thở, nhưng lại mang theo một sức sống tha thiết, mãnh liệt dâng lên bên bờ sông lạnh lẽo, khuya khoắt. Súng giặc nổ càng gần, Út lại gọi, giọng nghẹn lại:
- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:
- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...
Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một mảnh vải. Út lột khăn đưa cho anh choàng. Thương anh quá, Út đứng chết trận.
Út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ. Nhiều việc đang chờ anh dưới đó. Lúc tạm biệt anh dặn Út một câu:
- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.
Cũng là câu anh dặn cả bà con Tam Ngãi. Hửng sáng về đến vàm, Út vẫn còn nghiệm câu nói đó. Câu nói như có phép làm cho anh Hai đã đi xa mà vẫn thấy như gần.
(Trích Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi, nguồn: https://thuviensach.vn)
[11] Ném.
Xác định ngôi kể, điểm nhìn trong văn bản.
- Xác định ngôi kể dựa vào đại từ và cách người kể thuật lại sự việc
- Xác định điểm nhìn dựa vào nhân vật mà người kể chủ yếu theo dõi, miêu tả tâm lí và cảm xúc.
- Ngôi kể: thứ ba
- Điểm nhìn: đặt vào nhân vật chị Út Tịch.
Hãy ghi lại 01 yếu tố phi hư cấu trong văn bản.
- Nhận diện yếu tố phi hư cấu là những chi tiết, địa danh, sự kiện, nhân vật hoặc thông tin có tính xác thực, gắn với đời sống, lịch sử thực tế, được đưa vào văn bản.
Ví dụ:
- Út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ
- Cũng là câu anh dặn cả bà con Tam Ngãi.
Phân biệt lời nhân vật và lời người kể chuyện trong đoạn sau:
- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:
- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...
Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một mảnh vải. Út lột khăn đưa cho anh choàng. Thương anh quá, Út đứng chết trận.
Út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ. Nhiều việc đang chờ anh dưới đó. Lúc tạm biệt anh dặn Út một câu:
- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.
- Phân biệt lời nhân vật và lời người kể chuyện dựa vào hình thức đối thoại, dấu gạch đầu dòng và chức năng của lời nói:
+ lời nhân vật trực tiếp thể hiện tiếng nói, suy nghĩ của nhân vật
+ lời người kể dùng để thuật lại, miêu tả sự việc, hành động, hoàn cảnh.
- Lời nhân vật (Chị Út Tịch và anh Hai Tấn):
+ Lời gọi thưa giữa chị Út Tịch và anh Hai: “- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!”, “- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...”
+ Lời dặn dò của anh Hai: “- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.”
- Lời người kể chuyện:
+ Lời dẫn giữa những đối thoại giữa chị Út Tịch và anh Hai: “Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:”
+ Lời mô tả tình thế của anh Hai trong lúc chạy trốn: “Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một mảnh vải.”
+ Diễn biến sự việc sau khi tìm thấy anh Hai: “Út lột khăn đưa cho anh choàng. Thương anh quá, Út đứng chết trận. Út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ. Nhiều việc đang chờ anh dưới đó. Lúc tạm biệt anh dặn Út một câu:…”
Nhận xét của anh/chị về tính cách chị Út Tịch.
Dựa vào các hành động, lời nói, suy nghĩ và cách ứng xử của nhân vật trong văn bản để khái quát tính cách; cần có nhận xét + dẫn chứng tiêu biểu.
Chị Út Tịch là người phụ nữ có nhiều phẩm chất đáng quý:
- Thẳng thắn, bộc trực, chân thành: chị “hay nói lô la thẳng ruột ngựa”, không giấu suy nghĩ, cảm xúc của mình.
- Yêu nước, có niềm tin sâu sắc vào cách mạng: khi biết anh Hai vẫn còn hoạt động, chị “mừng vô hạn” vì “cách mạng của mình vẫn tiếp tục”.
- Gan dạ, dũng cảm, mưu trí: trước sự truy lùng gắt gao của địch, chị tìm cách che giấu, bảo vệ anh Hai; khi anh bị bắt, chị bất chấp nguy hiểm tìm kiếm và cứu anh.
- Giàu tình đồng chí, yêu thương con người: chị xúc động khi thấy anh Hai bị trói, thân thể lạnh run và không còn quần áo; không ngại nguy hiểm để cứu anh.
- Nhanh nhạy, quyết đoán: khi phát hiện anh Hai chạy thoát, chị lập tức phán đoán nơi anh có thể ẩn náu rồi tìm đến cứu.
“Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.” có còn ý nghĩa đến hôm nay không? Vì sao?
- Giải thích ý nghĩa của câu nói trong hoàn cảnh tác phẩm, sau đó liên hệ với hiện tại để khẳng định giá trị của thông điệp.
- Cần tránh đồng nhất “cách mạng” với những diễn giải quá rộng nếu không có căn cứ.
Gợi ý:
- “Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.” là lời dặn dò của anh Hai Tấn – người chiến sĩ cách mạng với chị Út Tịch khi anh tạm biệt, đó như là lời thề thiêng liêng sắt son của những người cùng chung chí hướng, một lòng một dạ hướng về Cách mạng.
- “Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.” Trong thời chiến hay thời bình hôm nay vẫn vẹn nguyên không hề thay đổi. Câu nói ý nghĩa không chỉ đến hôm nay mà còn muôn đời, vì: Cách mạng là kim chỉ nam định hướng mục tiêu, là sự sống, là máu thịt, cốt tủy trong mỗi con người, là bản lĩnh, là ý chí, là khát vọng vươn lên, lan tỏa những điều tốt đẹp, sẵn sàng cống hiến, hi sinh cho lí tưởng cao cả,…
II. VIẾT
Viết bài văn thuyết minh về một tác phẩm văn học mà em tâm đắc
- Xác định đúng đối tượng thuyết minh, giới thiệu được những thông tin cơ bản về tác giả, tác phẩm, nội dung, nghệ thuật và giá trị của tác phẩm.
- Lựa chọn thông tin chính xác, tiêu biểu, kết hợp với các chi tiết, hình ảnh, sự kiện trong tác phẩm để làm rõ nội dung thuyết minh.
- Bài viết cần bảo đảm bố cục ba phần, các ý được sắp xếp hợp lí, trình bày theo trình tự logic; diễn đạt trong sáng, mạch lạc.
1. Mở bài
Giới thiệu tác phẩm và tác giả, nêu lí do yêu thích
2. Thân bài
a. Thông tin khái quát về tác phẩm
- Tác giả Nguyễn Huy Thiệp:
+ Sinh năm 1950, mất năm 2021.
+ Là nhà văn có vị trí nổi bật trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới.
+ Sáng tác ở nhiều thể loại nhưng được biết đến nhiều nhất với truyện ngắn.
+ Đặc điểm sáng tác:
- Truyện ngắn “Muối của rừng”:
+ Nhân vật trung tâm: ông Diểu.
+ Tóm tắt:
b. Đặc sắc về nội dung
* Tác phẩm đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên
- Ban đầu, ông Diểu nhìn thiên nhiên chủ yếu từ góc độ của một người đi săn:
+ Vào rừng để săn bắn.
+ Con vật trở thành đối tượng để chinh phục.
- Tuy nhiên, trong quá trình chứng kiến đời sống của gia đình khỉ, ông dần nhận ra:
+ Muôn loài cũng có tình cảm.
+ Động vật có sự gắn bó, yêu thương và bản năng bảo vệ đồng loại.
+ Thiên nhiên không chỉ là nơi con người khai thác mà còn là một thế giới sống cần được tôn trọng.
* Hành trình thay đổi nhận thức của nhân vật ông Diểu
- Ban đầu: ông Diểu chủ động săn bắn, thể hiện tâm thế của con người muốn chinh phục tự nhiên.
- Trong cuộc săn: những gì diễn ra trước mắt khiến ông dần bị tác động về mặt cảm xúc.
- Sau đó: ông không còn nhìn con vật đơn thuần như một “con mồi”.
- Cuối cùng: sự thay đổi trong hành động cho thấy sự thức tỉnh của lòng trắc ẩn và lương tri.
=> Nhân vật ông Diểu giúp tác phẩm khẳng định: con người có thể thay đổi khi biết quan sát, đồng cảm và nhận ra giá trị của sự sống.
* Ý nghĩa của hình ảnh “muối của rừng”
- “Muối của rừng” trước hết là một hình ảnh gắn với thế giới tự nhiên trong tác phẩm.
- Đồng thời, hình ảnh này mang ý nghĩa biểu tượng:- Gợi vẻ đẹp kì diệu, bí ẩn của thiên nhiên.
+ Gợi sự sống và những giá trị tinh khiết mà con người có thể nhận ra khi hòa mình vào thiên nhiên.
+ Có thể hiểu như một dấu hiệu của sự hồi sinh, thanh lọc và thức tỉnh.
=> Đặt hình ảnh này ở cuối truyện giúp câu chuyện có dư âm, khiến người đọc tiếp tục suy nghĩ về hành trình thay đổi của ông Diểu.
c. Đặc sắc về nghệ thuật
- Xây dựng tình huống truyện: Tình huống một chuyến đi săn tưởng như bình thường nhưng lại tạo điều kiện để nhân vật trải qua một sự thay đổi về nhận thức. Qua đó, tư tưởng của tác phẩm được thể hiện tự nhiên, không cần lời giáo huấn trực tiếp.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật ông Diểu được khắc họa chủ yếu qua: Hành động, quan sát, phản ứng trước những sự việc xảy ra, sự thay đổi trong tâm trạng và cách ứng xử.
- Cách kể chuyện và ngôn ngữ: Cách kể chuyện tương đối tự nhiên, ngắn gọn; chi tiết được lựa chọn có sức gợi; ngôn ngữ giàu tính tạo hình nhưng không cầu kì.
d. Lí do em tâm đắc với tác phẩm
- Tác phẩm khiến người đọc suy nghĩ sâu sắc về cách con người đối xử với thiên nhiên.
- Câu chuyện đơn giản nhưng tạo ra sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật.
- Hình ảnh gia đình khỉ giúp người đọc nhận ra rằng sự sống nào cũng có giá trị.
- Tác phẩm có ý nghĩa với cuộc sống hôm nay khi vấn đề bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm.
3. Kết bài
Khẳng định giá trị truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp và đưa ra lời khuyến khích người đọc tìm hiểu về tác phẩm và tác giả





