Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 11 - Đề số 6
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Ông nội tôi là nghệ nhân câu cá. Từ bé tôi đã thấy ông gắn với chiếc cần câu. Vẻ im lặng, bí ẩn của ông vừa an nhàn, vừa có cái gì đó giống như sự cam phận. Không khỏi có lúc tôi thầm nghĩ: Làm đấng nam nhi mà chỉ quanh quẩn như ông nội thì kể cũng chán. Chính ông nội khiến tôi luôn mơ về biển cả. Nơi ấy chẳng có bến bờ, mới thực sự là nơi vẫy vùng thỏa chí. Tôi cũng sẽ theo nghề câu như ông nội nhưng mà tôi câu cá kình. [...]
Một hôm, tôi quyết định thử đi câu cùng với ông. Tôi vác theo chiếc sào to tướng dùng làm cần. Tôi móc con giun béo nhẫy làm mồi. Tôi cũng thả lưỡi xuống nhưng tâm trí chẳng tập trung nổi vào chiếc phao cứ lì lợm đứng im. Thật là tẻ nhạt và tù túng. Cuối buổi tôi dứt cước ném đi, dùng cần khua ầm ĩ xuống nước.
Hôm sau tôi xin ông để tôi được ra đi. Ông vẫn im lặng nhìn tôi, không tỏ ra bực tức hay vui mừng. Hình như ông rất muốn thở dài.
- Đi để thử sức thì cũng tốt - Ông chỉ bảo có vậy.
Tôi ra biển như mơ ước suốt thời bé. Tôi bỏ theo một tàu đánh cá với hy vọng sẽ bắt được cả kình. Trước mặt tôi giờ đây chỉ có đường chân trời. Nhưng chỉ được một thời gian tôi mới vỡ lẽ ra rằng không có gì chán cho bằng cứ lênh đênh trên biển. Tôi cồn cào nhớ đất liền, trong khi cá kình vẫn mất hút. Không ai, ngay cả tôi, ngờ được lại có ngày tôi tơi tả như một kẻ thất trận. Ông tôi vẫn không mừng, không buồn, tựa như việc tôi ra đi hay trở về chẳng khiến ông bận tâm, chỉ hỏi:
- Cháu về rồi à?
- Cháu về để theo nghề của ông.
Ông tôi bắt đầu truyền nghề cho tôi. Ông cho tôi một chiếc cần đủ cước, lưỡi nhưng không có mồi. Ông bảo cứ thả xuống câu, mắt không được rời phao. Tôi làm theo ông, thoạt đầu gan ruột như có lửa cháy. Ông bảo không được nóng vội. Rồi tôi ngồi qua một tuần, chỉ muốn phát điên. Bài học nhập môn gì mà cay nghiệt thế. Rồi tôi cũng qua được một tháng, lòng gan đã dịu lại. Qua hai tháng cảnh vật trở nên hiền hòa, mặt nước thôi nghiêng ngả. Qua ba tháng thì tôi không còn thấy cả chiếc cần câu đâu nữa. Bấy giờ ông tôi mới bảo:
- Giờ thì cháu có thể đi câu cá kình được rồi.
Tôi giật mình, mồ hôi túa ra. Tôi lại đi ra biển như ông nói, biển không hề có sóng.
(Trích “Bài học đi câu”, Tạ Duy Anh, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ,
số 05. NXB Giáo dục, 2012, tr.47 - 48)
Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản trên.
Xác định ngôi kể bằng cách chú ý đại từ xưng hô của người kể chuyện và xem người kể có trực tiếp tham gia vào câu chuyện hay không.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng "tôi".
Theo văn bản, ai là người đã khiến nhân vật “tôi” mơ về biển cả?
Đọc kĩ phần đầu văn bản, xác định chi tiết nêu nguyên nhân khiến nhân vật "tôi" mơ về biển cả.
Theo văn bản, người khiển nhân vật “tôi” mơ về biển cả là ông nội.
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn in đậm ở văn bản trên
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh, xác định hình ảnh được so sánh và nêu tác dụng về nội dung, nghệ thuật.
- Biện pháp tu từ so sánh trong câu: "gan ruột như có lửa cháy".
- Tác dụng:
+ Làm cho cách diễn đạt trở nên cụ thể, giàu hình ảnh, tăng sức gợi cảm và tính sinh động của câu văn.
+ Nhấn mạnh tâm trạng nôn nóng, sốt ruột, thiếu kiên nhẫn của nhân vật "tôi" trong những ngày đầu học câu.
Nhận xét về sự thay đổi của nhân vật “tôi” sau khi đi học câu một tháng.
Đọc kĩ đoạn miêu tả quá trình học câu; đối chiếu sự thay đổi của nhân vật trước và sau một tháng để nhận xét.
Sự thay đổi của nhân vật “tôi” sau khi đi học câu một tháng:
- Sau khi đi câu một tháng: thấy “lòng gan đã dịu lại”.
- Nhận xét: Thời gian đầu, nhân vật “tôi” nôn nóng, “gan ruột như có lửa cháy”, “chỉ muốn phát điên”, qua một tháng, không còn mất kiên nhẫn như lúc trước, dần thích nghi được với công việc.
Từ văn bản trên, hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em.
Rút ra thông điệp từ nội dung văn bản; nêu rõ thông điệp và lí giải ngắn gọn.
Gợi ý:
- Muốn đạt được thành công, con người cần rèn luyện sự kiên trì, nhẫn nại và biết làm chủ bản thân.
- Lí giải: Chỉ khi biết vượt qua sự nóng vội, kiên trì rèn luyện từng ngày, con người mới tích lũy được kinh nghiệm, bản lĩnh để thực hiện ước mơ và chinh phục những mục tiêu lớn trong cuộc sống.
II. VIẾT
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về nhân vật “tôi” trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học: giới thiệu nhân vật, phân tích đặc điểm qua hành động, tâm lí; đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật và khái quát ý nghĩa.
- Giới thiệu nhân vật "tôi".
- Đánh giá về nhân vật:
+ Là người có ước mơ lớn, khát khao chinh phục biển cả và cá kình.
+ Ban đầu nóng vội, thiếu kiên nhẫn, coi thường những điều bình dị.
+ Sau những trải nghiệm thất bại và quá trình học câu với ông nội, dần trưởng thành, biết bình tĩnh, nhẫn nại, làm chủ bản thân.
- Đánh giá nghệ thuật:
+ Xây dựng nhân vật qua diễn biến tâm lí tự nhiên.
+ Ngôi kể thứ nhất giúp câu chuyện chân thực, giàu sức thuyết phục.
+ Hình ảnh "đi câu" mang ý nghĩa biểu tượng cho hành trình rèn luyện con người.
- Khẳng định: Nhân vật "tôi" gửi gắm bài học về sự trưởng thành, kiên trì và bản lĩnh trong cuộc sống.
Em hãy viết bài văn nghị luận bàn về cách nuôi dưỡng lòng biết ơn trong cuộc sống.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Sống trải nghiệm
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài
- Giải thích vấn đề nghị luận: Nuôi dưỡng lòng biết ơn là quá trình tạo dựng, rèn luyện, bồi đắp ý thức trân trọng những điều tốt đẹp mà bản thân đã được nhận; ghi nhớ những người đã giúp đỡ mình...
- Bàn luận:
+ Nguyên nhân: Mọi thử không tự nhiên mà có, tất cả những gì chúng ta được hưởng thụ đều phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, xương máu, thậm chí là tính mạng của người khác. Vì vậy, chúng ta cần biết ơn đến Phá những người đã đem đến cho chúng ta cuộc sống trọn vẹn như ngày hôm nay.
+ Ý nghĩa: Việc nuôi dưỡng lòng biết ơn là cơ sở để hình thành những hành động đẹp; là nền tảng, tiền đề để xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ; kết nối, thắt chặt mối quan hệ giữa người với người; lan tỏa tình yêu thương, sự sẻ chia trong cộng đồng...
+ Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác: Phê phán những người vô ơn, sống ích kỉ, chỉ biết nhận mà không biết trân trọng hay đền đáp.
- Giải pháp:
+ Ghi nhớ, chủ động đền đáp công ơn, trân trọng những gì người khác trao tặng.
+ Biết nói lời cảm ơn chân thành với những người đã giúp đỡ, mang đến những điều tốt đẹp cho bản thân mình.
+ Trân trọng những gì mình đang có, dù chỉ là những điều nhỏ bé.
3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận.





