Đề thi tham khảo giữa học kì 1 Văn 11 - Đề số 9
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...
Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn!
Trái cây rơi vào áo người ngắm quả,
Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn,
Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ
Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn...
…
Không ai có thể ngủ yên trong đời chật
Buổi thuỷ triều vẫy gọi những vầng trăng,
Mỗi gié lúa (1) đều muốn thêm nhiều hạt,
Gỗ trăm cây đều muốn hoá nên trầm (2)
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,
Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng...
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?, Chế Lan Viên, NXB Văn học, 2002, tr.354, 355)
Chú thích:
- Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, nhà nghiên cứu lý luận, nhà phê bình văn học nghệ thuật. Bài thơ “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” được sáng tác khi cả nước đang trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.
(1) gié lúa: bông lúa.
(2) trầm: gỗ lâu năm, có mùi hương thoang thoảng dễ chịu.
Xác định thể thơ của văn bản trên.
Dựa vào số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách ngắt nhịp, gieo vần và sự linh hoạt về độ dài câu thơ để xác định thể thơ.
Thể thơ tự do
Nêu những từ ngữ cảm thán thể hiện cảm xúc của tác giả khi viết về Tổ quốc trong hai dòng thơ đầu.
Nhận diện từ ngữ cảm thán và các từ ngữ mang sắc thái biểu cảm trong câu thơ.
Những từ ngữ cảm thán thể hiện cảm xúc của tác giả khi viết về Tổ quốc trong hai dòng thơ đầu: Hỡi, thế này chăng.
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê đối với việc thể hiện nội dung chính trong đoạn thơ sau:
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...
Vận dụng kiến thức về phép tu từ liệt kê
Chỉ ra các từ ngữ biểu hiện của phép tu từ liệt kê trong đoạn thơ và nêu tác dụng
- Các từ ngữ biểu hiện của phép tu từ liệt kê trong đoạn thơ: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Hưng Đạo; (hoặc: làm thơ, đánh giặc, viết Kiều).
- Tác dụng:
+ Khắc họa, gợi nhắc những nhân vật kiệt xuất và những trang sử hào hùng của dân tộc qua các thời đại.
+ Làm nổi bật truyền thống văn hóa, lịch sử và tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
+ Thể hiện khát vọng vươn tới những giá trị lớn lao, khát vọng cống hiến và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời bộc lộ tình yêu, niềm tự hào sâu sắc về truyền thống dân tộc.
Nhận xét suy nghĩ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua những hệ thống hình ảnh kết hợp động từ muốn, nằm mơ trong đoạn thơ sau:
Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt
Gỗ trăm cây đều muốn hoá nên trầm
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt
Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng...
Suy nghĩ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua những hệ thống hình ảnh kết hợp động từ muốn, nằm mơ trong đoạn thơ: khát khao được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước; bộc lộ tình yêu đối với Tổ quốc.
Theo anh/chị, tuổi trẻ cần làm gì để thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh (trình bày khoảng 5-7 dòng)?
Xác định vấn đề nghị luận, sau đó nêu những hành động thiết thực, phù hợp với tuổi trẻ, tránh chỉ nói chung chung về lòng biết ơn.
Gợi ý:
- Ghi nhớ, tri ân những người đã hi sinh, cống hiến cho Tổ quốc.
- Tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công.
- Chủ động tìm hiểu lịch sử, truyền thống dân tộc.
- Không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, bản lĩnh và sức khỏe.
- Sống có trách nhiệm, có lí tưởng; tích cực đóng góp cho cộng đồng.
- Sẵn sàng bảo vệ và xây dựng đất nước trong khả năng của mình.
II. VIẾT
Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) cảm nhận về tình cảm của tác giả đối với đất nước được thể hiện trong khổ thơ đầu bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Của tác giả Chế Lan Viên.
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của đoạn văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn phân tích một bài thơ
1. Mở đoạn
- Giới thiệu khái quát: Trong khổ thơ đầu, Chế Lan Viên thể hiện tình yêu tha thiết, niềm tự hào sâu sắc về lịch sử, truyền thống và vẻ đẹp của Tổ quốc.
2. Thân đoạn
a. Niềm tự hào về lịch sử, truyền thống dân tộc
- Hình ảnh “sông Hồng”, “tiếng hát bốn nghìn năm”:
+ Gợi chiều dài lịch sử lâu đời của dân tộc.
+ Thể hiện niềm tự hào về truyền thống văn hóa, lịch sử của đất nước.
b. Niềm tự hào về những danh nhân, anh hùng dân tộc
- Phép liệt kê: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Hưng Đạo.
+ Gợi những đóng góp lớn lao: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du gắn với vẻ đẹp văn hóa, văn học dân tộc. Nguyễn Huệ, Hưng Đạo gắn với truyền thống anh hùng, bất khuất, chống ngoại xâm.
+ Qua đó, đất nước hiện lên vừa giàu truyền thống văn hóa, vừa hào hùng trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.
c. Tình yêu, niềm xúc động trước vẻ đẹp của Tổ quốc
- Câu hỏi tu từ: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”
+ Thể hiện sự ngỡ ngàng, xúc động, vui sướng.
+ Khẳng định vẻ đẹp rực rỡ của Tổ quốc trong thời đại tác giả đang sống.
- Tiếng gọi “Hỡi sông Hồng”: giọng điệu tha thiết, trìu mến, thể hiện tình yêu sâu nặng với quê hương, đất nước.
d. Khát vọng cống hiến, lí tưởng sống
- Từ niềm tự hào về truyền thống dân tộc, tác giả hướng tới lí tưởng sống, lí tưởng cách mạng.
- Khơi dậy khát vọng của con người được sống có ý nghĩa, cống hiến sức mình cho đất nước, tiếp nối truyền thống cha anh.
e. Nghệ thuật
- Thể thơ tự do giúp cảm xúc được bộc lộ linh hoạt, phóng khoáng.
- Giọng thơ hào hùng, âm hưởng ngợi ca tạo không khí trang trọng, tự hào.
- Sử dụng câu hỏi tu từ, phép liệt kê, điệp cấu trúc...
3. Kết đoạn
Khẳng định: Khổ thơ là khúc ca ngợi ca Tổ quốc, qua đó thể hiện tình yêu nước nồng nàn, niềm tự hào về truyền thống dân tộc và khát vọng cống hiến của Chế Lan Viên.
Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) về vai trò của lí tưởng sống đối với tuổi trẻ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
- Giải thích: Lý tưởng sống hay lẽ sống là cái đích cuộc sống mà mỗi người khát khao muốn đạt được.
- Bàn luận:
+ Người sống có lí tưởng không bị dao động về lập trường, tư tưởng, không bỏ cuộc, lầm đường dù có khó khăn gian khổ, kiên định con đường mình đã chọn.
+ Lí tưởng giúp con người không ngừng hoàn thiện mình mỗi ngày, hoàn thiện nhân cách, nhận ra giá trị của chính mình, sống tích cực, lạc quan; có mục đích để phấn đấu vươn lên, nỗ lực hành động, vượt qua những giới hạn của bản thân và kiến tạo những giá trị tốt đẹp, lan tỏa lối sống cống hiến trong cộng đồng.
- Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác: Phê phán người trẻ sống không mục tiêu, thiếu lí tưởng, dễ buông xuôi, chạy theo những giá trị nhất thời.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Nhận thức được ý nghĩa của việc sống có lí tưởng.
+ Xác định cho mình lí tưởng, mục tiêu phù hợp với năng lực và hoàn cảnh.
+ Không ngừng học tập, rèn luyện, kiên trì và hành động để biến lí tưởng thành hiện thực.
+ Biết gắn lí tưởng cá nhân với trách nhiệm đối với gia đình, cộng đồng và đất nước.
3. Kết bài: Khẳng định lại vai trò của lí tưởng sống đối với tuổi trẻ.





