Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 11 - Đề số 11
I. ĐỌC HIỂU
Đọc hiểu văn bản và trả lời những câu hỏi phía dưới:
NHỮNG NỖI LÒNG TÊ TÁI *
(Trích Truyện Kiều)
Lầu xanh mới rủ trướng đào,
Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.
Biết bao bướm lả ong lơi,
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
Dập dìu lá gió cành chim,
Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh. (1)
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân?
Mặc người mưa Sở, mây Tần, (2)
Riêng mình nào biết có xuân là gì?
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!
Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.
Thờ ơ gió trúc mưa mai,
Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân.
Ôm lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
Dặm nghìn nước thẳm non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này.
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
Mối tình đòi đoạn vò tơ,
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân.
Đã đày vào kiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi!
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
* Tên đoạn trích: Do GS.TS Trần Đình Sử đặt
- Đoạn trích: Đây là đoạn thơ miêu tả tâm trạng đau đớn, ê chề của Thúy Kiều sau khi buộc phải tiếp khách ở lầu xanh. Khi biết rơi vào lầu xanh, Kiều đã tự tử, nhưng không chết. Định liều chạy trốn theo Sở Khanh nhưng lại bị lừa, bị đánh đập tàn nhẫn, cuối cùng phải tiếp khách.
(1) Tống Ngọc, Trường Khanh: Tống Ngọc, người nước Sở đời Xuân Thu; Tràng Khanh tức Tư Mã Tương Như, người đời nhà Hán. Tống Ngọc và Trường Khanh, cả hai đều có tài văn học và cũng đều đẹp trai, lãng mạn, đa tình. Tác giả mượn hai nhân vật này, chủ yếu nói lên sự tiếp khách của Kiều đối với đối tượng nào. Vì sớm tối, Kiều phải tiếp khách nhưng toàn là khách phong lưu tài tử (như Tống Ngọc, Tràng Khanh), chớ không phải khách tầm thường. Và cũng do đó, nhờ Kiều mà thanh lâu của mụ Tú Bà càng nổi tiếng, càng đắt khách
(2) Mây Sở mưa Tần: tác giả Truyện Kiều mượn cái tính chất của bọn đầu cơ chính trị để nói đến cái tính chất của khách làng chơi từ xa đâu đâu đến, ý nói về khách làng chơi ở khắp nơi đến để thỏa mãn thú vui và thanh toán sòng phẳng cho Tú Bà.
Xác định thể thơ của đoạn trích.
Vận dụng kiến thức về các phương thức biểu đạt, căn cứ vào nội dung và cách thể hiện của đoạn trích.
Đoạn trích được viết theo thể thơ lục bát
Không gian mở đầu đoạn trích là không gian như thế nào? Không gian ấy có gì đối lập với tâm trạng của Thúy Kiều?
Đọc kĩ đoạn thơ mở đầu, phân tích từ ngữ, hình ảnh để xác định đặc điểm không gian và đối chiếu với tâm trạng của nhân vật trữ tình.
- Không gian mở đầu: Không gian lầu xanh náo nhiệt, đông đúc, tấp nập với những cuộc vui chơi, yến tiệc kéo dài suốt ngày đêm. Các hình ảnh “bướm lả ong lơi”, “cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm”, “sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh” gợi cảnh khách làng chơi ra vào liên tục.
- Sự đối lập với tâm trạng Thúy Kiều: Bên ngoài là không khí vui vẻ, náo nhiệt nhưng bên trong Kiều phải chịu nỗi đau đớn, tủi nhục, ê chề và cô đơn. Sự đối lập giữa cảnh bên ngoài và tâm trạng bên trong làm nổi bật bi kịch tinh thần của Kiều, đồng thời cho thấy sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du đối với nhân vật.
Từ nội dung chính của đoạn trích trong phần chú thích và câu trả lời ở câu hỏi 1, em hãy cho biết đoạn trích trên có thể chia bố cục như thế nào?
Dựa vào thể thơ, nội dung và sự vận động của tâm trạng nhân vật để xác định các phần của đoạn trích.
Có thể chia bố cục theo tâm trạng của Kiều:
- Đoạn 1 (Từ đầu đến “Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh”): Giới thiệu không gian chung và hoàn cảnh của Kiều.
- Đoạn 2 (Tiếp theo đến “Riêng mình nào biết có xuân là gì?”): Nỗi thương thân, xót thân, tiếc thân.
- Đoạn 3 (Tiếp theo đến “Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân.”): Nỗi buồn và bẽ bàng, cô đơn một mình .
- Đoạn 4 (Tiếp theo đến “Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”): Nỗi nhớ cha mẹ, người yêu và mối tình của Vân và Trọng.
- Đoạn cuối (Còn lại): Tình cảm đay nghiến số phận, oán trách số phận, lên án sự bất công của tạo hóa
Em hiểu thế nào về câu thơ:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!
Câu thơ này đã thể hiện rõ một bút pháp miêu tả tâm lí đặc sắc của Nguyễn Du, đó là bút pháp nào? Hãy trình bày cách hiểu của em về bút pháp nghệ thuật đó.
Phân tích ý nghĩa câu thơ, xác định mối quan hệ giữa cảnh vật và tâm trạng nhân vật, từ đó gọi tên và giải thích bút pháp nghệ thuật.
- Ý nghĩa câu thơ: Câu thơ thể hiện mối quan hệ giữa tâm trạng con người và cảnh vật. Khi con người buồn đau, cảnh vật dù tươi đẹp cũng trở nên ảm đạm, nhuốm màu u sầu. Trong hoàn cảnh bị đẩy vào lầu xanh, Thúy Kiều luôn đau đớn, tủi nhục nên không thể tìm thấy niềm vui hay sự thanh thản trong cảnh vật xung quanh.
- Bút pháp nghệ thuật: Bút pháp tả cảnh ngụ tình.
- Cách hiểu: Tả cảnh ngụ tình là cách miêu tả cảnh vật để gửi gắm, thể hiện tâm trạng, cảm xúc của con người. Cảnh vật không chỉ được tái hiện khách quan mà còn thấm đẫm tâm trạng nhân vật. Trong câu thơ, nỗi buồn của Kiều lan tỏa và nhuốm màu lên cảnh vật, qua đó làm nổi bật bi kịch tinh thần và sự cô đơn của nàng.
Lựa chọn một đoạn miêu tả tâm trạng của Kiều trong đoạn trích và phân tích.
Lựa chọn đoạn thơ tiêu biểu, phân tích từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ và diễn biến cảm xúc để làm rõ tâm trạng nhân vật.
(Tham khảo đoạn phân tích của GS. TS Trần Đình Sử)
Kiều không chỉ đau cho mình. Nàng đau đớn thương xót người thân. Nàng là người con có hiếu, có nghĩa, có tình, cho nên:
Ôm lòng đòi đoạn xa gần,
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!
Trước hết là nàng nhớ cha mẹ ngày một già, thương cha mẹ không có người chăm nom. Nhưng thương nhất là câu này:
Dặm nghìn nước thẳm non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này.
Cha mẹ bao giờ cũng mong con hạnh phúc, gửi gắm hy vọng vào con, thế mà thân phận con đã thay đổi ô nhục, cha mẹ xa xôi không biết mà đau lòng!
Thứ hai là thương người tình và mong em gái thay mình lấy chàng:
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai?
Cuối cùng là nỗi lòng nhớ về quê hương của người con lưu lạc:
Mối tình đòi đoạn vò tơ,
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài.
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
Nhà thơ đã hai lần nhắc đến từ “đòi đoạn” – nỗi đau tan nát. Có lẽ nói những nỗi lòng tan nát hợp hơn là những nỗi lòng tê tái chăng ? Trong nỗi lòng Kiều, nổi lên tình cảm đau đớn vì tha hương lưu lạc và cảm giác thời gian kéo dài nặng nề vô nghĩa.
II. VIẾT
Viết một bài đoạn nghị luận khoảng 200 chữ trình bày quan điểm của em về sự quan trọng của việc biết làm chủ bản thân.
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội; giải thích vấn đề, trình bày vai trò, đưa ra lí lẽ và dẫn chứng phù hợp, đồng thời rút ra bài học nhận thức và hành động.
1. Mở đoạn
Khẳng định tầm quan trọng của việc làm chủ bản thân trong cuộc sống.
2. Thân đoạn
a. Giải thích
Làm chủ bản thân là khả năng kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc và hành vi, biết chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình.
b. Vì sao việc làm chủ bản thân quan trọng?
Vai trò:
- Giúp con người bình tĩnh, bản lĩnh trước khó khăn, không hành động bốc đồng.
- Giúp xác định mục tiêu, quản lí thời gian và duy trì kỉ luật để đạt được thành công.
- Giúp xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp, tạo được niềm tin và sự tôn trọng từ người khác.
3. Kết đoạn
Khẳng định làm chủ bản thân là phẩm chất cần thiết để mỗi người trưởng thành và sống có ý nghĩa.
Viết bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích, đánh giá đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Những nỗi lòng tê tái trên.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học; phân tích diễn biến tâm trạng Thúy Kiều
- Làm rõ giá trị nhân đạo và những đặc sắc nghệ thuật trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, thể thơ và bút pháp miêu tả tâm lí.
1. Mở bài
Giới thiệu Nguyễn Du, Truyện Kiều và đoạn trích Những nỗi lòng tê tái. Khẳng định đoạn trích thể hiện sâu sắc bi kịch tinh thần của Thúy Kiều, qua đó bộc lộ giá trị nhân đạo và tài năng miêu tả tâm lí của nhà thơ.
2. Thân bài
a. Đặc sắc về nội dung
- Khắc họa hoàn cảnh và bi kịch của Kiều: Không gian lầu xanh náo nhiệt, đông đúc đối lập với nỗi đau đớn, tủi nhục của nhân vật.
- Thể hiện nỗi thương thân, xót phận: Các từ ngữ “giật mình”, “thương mình xót xa”, hình ảnh đối lập giữa “phong gấm rủ là” và “tan tác như hoa giữa đường” cho thấy sự đau đớn khi Kiều ý thức về thân phận hiện tại.
- Làm nổi bật nỗi cô đơn, buồn tủi: Cảnh vật dù đẹp đẽ cũng không đem lại niềm vui; những thú vui tao nhã chỉ càng làm Kiều thêm bẽ bàng.
- Thể hiện nỗi nhớ thương người thân, quê hương: Kiều đau đớn vì thân phận lưu lạc, nhớ thương gia đình, người yêu và quê nhà.
- Bộc lộ sự oán trách số phận: Những lời than trách ở cuối đoạn thể hiện nỗi phẫn uất trước sự bất công mà người phụ nữ tài sắc phải gánh chịu.
=> Qua đó, Nguyễn Du bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận người phụ nữ và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của Thúy Kiều.
b. Đặc sắc về nghệ thuật
- Sử dụng thể thơ lục bát giàu nhạc điệu, phù hợp với việc diễn tả những cung bậc cảm xúc.
- Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế qua lời độc thoại nội tâm, câu hỏi tu từ và sự vận động của cảm xúc.
- Vận dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, làm cho cảnh vật thấm đẫm nỗi buồn của nhân vật.
- Sử dụng từ ngữ giàu sức gợi, các cặp từ đối xứng và hình ảnh ước lệ như “bướm lả ong lơi”, “bướm chán, ong chường”, “mưa Sở, mây Tần”.
- Khai thác hiệu quả sự đối lập giữa cảnh sống bên ngoài và tâm trạng bên trong, giữa quá khứ và hiện tại.
3. Kết bài
Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích. Nêu ấn tượng về tài năng miêu tả tâm lí và tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du.





