Đề thi tham khảo học kì 2 Văn 11 - Đề số 13
I. ĐỌC HIỂU
Đọc hiểu văn bản và trả lời những câu hỏi phía dưới:
ĐI TRÊN ĐƯỜNG HÀ NỘI
(Đỗ Chu)
Những chiều đông Hà Nội ngồi bên vỉa hè uống chén trà nóng ngắm rặng bàng khô khẳng trút lá, thử hình dung mùa đông Hà Nội 1946. Nghe nói dạo đó rét cắt da cắt thịt, vài cụ già thì thào trời đất này không khéo loạn to, ngoài cánh đồng mạ chết cá nổi, vừa qua đận đói giờ lại đến mùa màng khô héo.
Vào một chiều như thế bác sĩ Nguyễn Văn Luyện - nhà trí thức yêu nước nổi tiếng sang trọng đất Hà Thành đột ngột đến nhà một người bạn trong cái ngõ vắng thưa thớt người qua lại. Ông đi một mình như mọi bận nhưng lần này là để tiến hành một việc trọng đại. Nghĩa là ông tự đi hỏi vợ cho thằng con trai duy nhất, mẹ nó chả còn, từ nhiều năm nay ông sa vào cảnh gà trống nuôi con.
Bên nhà bạn cũng hiếm hoi chỉ có một cô con gái. Hai ông cùng học thuở còn ở Trường Bưởi, xong hệ tú tài một ông vào trường thuốc Hà Nội, một ông qua Paris vào ngành khí tượng - thủy văn, tốt nghiệp về nước làm ở đài Phủ Liễn Kiến An. Đầu năm này xảy ra vụ Nhật - Pháp bắn nhau thế là ông chán bỏ về nằm nhà, nói đùa với các bạn moa từ nay thành thằng kỹ sư thất nghiệp, ăn hại vợ con mất rồi, thời tiết nhìn chung không lấy gì làm đẹp.
[Lược: Con trai bác sĩ Nguyễn Văn Luyện kết đôi cùng con gái người bạn thân của bác sĩ]
* * *
Thêm một chiều anh về xin phép cha mẹ đưa cô đi chơi. Bàn nhau lên mạn hồ Tây nhưng đến chùa Trấn Vũ vừa kịp thấy một mảng nước thì anh em trên ấy cản lại, cho biết từ ban trưa tụi lê dương đã mang xe tăng dàn quân dọc đường Yên Phụ. Anh có sáng kiến, ta sẽ quay về bằng giao thông hào, cũng là muốn cho em đủ mường tượng thế nào là trận địa chiến, thế nào là đánh giáp lá cà, đánh phòng ngự, đánh cầm cự.
Giao thông hào xuyên qua đường qua nhà, vòng vo mạng nhện, đục tường khoét ngạch tạo thế liên hoàn. Dọc đường họ gặp những đám đông người vác gươm, người vác dao, vác búa đi lại bên những ụ súng. Có anh chỉ huy đứng chiếu ống nhòm chỉ chỏ tứ tung các hướng. Ngổn ngang là sập gụ tủ chè, cối giã giò, lọ lục bình, máy hát, cổng giả xà dọc xà ngang. Rất nhiều thứ lạ mắt cô không sao đoán nổi ngày thường dùng để làm gì, tất cả được mang ra chồng chất chiến hào.
Về đến Hàng Gai đã thấy thấm mệt bảo nhau dừng chân tạm nghỉ. Anh dắt cô chui qua một mảng tường đổ bước vào mảnh sân vắng vẻ có cây dâu lớn cành lá xanh um. Vừa ngồi xuống ông chủ nhà ở đâu hiện về, ngực mang một chiếc máy ảnh có ống têlê. Với phong độ nghệ sĩ ông bảo hai người ngồi nhích lại gần cây dâu để ông cho một kiểu ảnh kỷ niệm. Chụp xong ông mở sổ tay xin địa chỉ phòng có lúc mang ảnh đến tặng họ. Anh lấy địa chỉ nhà vợ bảo ông ghi, nghĩ lại cũng thấy lạ lúc ấy sao anh lại không dùng địa chỉ nhà bên ấy. Ông nhiếp ảnh vui chuyện kể quê ông làng Lai Xá, cả làng theo nghề ảnh, nhiều người làm ăn trong Sài Gòn, bên Cao Miên, Ai Lao. Cụ tổ làng lặn lội sang Pháp mang nghề này về từ đầu thế kỷ. Mấy tuần lễ nay ông lang thang khắp thành phố chụp hàng trăm tấm ảnh thời sự định lúc nào đó sẽ có bộ sách ảnh đặt tên cho nó là Nhớ về Hà Nội một mùa đông rực lửa! Anh bàn góp, ý đồ rất hay nhưng cái tên sách dài quá, tôi mơ có một quyển như thế với tên gọi Mùa đông ấy.
Chia tay với ông, họ tìm đường đi về hướng Bắc Bộ Phủ. Đến một góc phố lại trông thấy mảng nước xanh, họ rất muốn làm một vòng quanh hồ mà không thể. Đứng nhìn mảng nước ấy anh nói, trên trái đất này rất nhiều thành phố có hồ, hồ của người ta cũng đẹp lắm, lại lớn nhưng với chúng ta thì chỉ có hồ Gươm là thiêng liêng yêu dấu nhất. Bởi nó đã là tấm gương soi lịch sử dân tộc, và nó cũng là tấm gương soi khuôn mặt mỗi người.
Đêm ấy chị đứng nhìn theo bóng anh bước vào khoảng sân cỏ rộng sau nhà Bắc Bộ Phủ, dáng anh cao lớn khác thường, những bước đi mềm mại của loài báo gấm.
Vào khoảng 9 giờ tối, lúc đó cha đang ngồi dò sóng radio bất ngờ gọi vợ con đến để nghe tiếng Cụ Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cả nhà không ai ngủ nữa, thức chờ cái gì đó. Nửa đêm đèn vụt tắt, thành phố tối đen. Rồi tiếng đại bác từ Pháo Đài Láng bay vù vù vào thành Hà Nội. Những cột lửa bắt đầu cháy lên. Sáng sớm nghe có nhiều tiếng súng mạn Cửa Bắc, Cửa Đông. Cha chạy ra đường nghe ngóng rồi về thông báo, quân ta quân Pháp đang giao chiến trên chợ Đồng Xuân và chợ Hòe Nhai, Hàng Bún. Cũng là còn đang giằng co lâu.
Chiến sự nổ khoảng một tuần anh đến xin phép cho vợ chồng được về sống bên nhà vài ngày vì ông Luyện chuẩn bị lên chiến khu, nội đêm nay hoặc đêm mai là có người đón.
Lại bước vào ngôi biệt thự trắng trong mảnh vườn có những cây táo sù sì gai và giàn hoa giấy cũng gai. Lại bước từng bước lên cái cầu thang lát gỗ thơm từ những năm tuổi thơ đã được theo cha cho đến đây thăm bác Luyện.
Ngồi trong phòng ông đón hai con bằng một nụ cười mà ông vẫn có ý để dành cho chúng. Cô thưa, ba thấy còn cần phải chuẩn bị thêm gì thì để con làm. Cảm ơn con, sẵn sàng cả rồi, hai đứa ngồi xuống đi. Ông ngồi đấy như nhiều năm nay vẫn ngồi, đôi bàn tay rộng đan vào nhau bằng những ngón tay thầy thuốc.
Lúc lâu ông xem đồng hồ rồi bảo, hai đứa mang nhau về phòng, quá giờ hẹn rồi, đợi thêm ít phút nữa ba cũng sẽ đi nghỉ. Ông đứng lên bước tới gần khung cửa sổ. Màn sương mung lung, bên ngoài im ắng không người qua lại. Thành phố đang chìm vào một sự yên tĩnh giả dối. Trước mặt ông là một quảng trường rộng, gọi là ngã sáu đường Boulevard Careau, tên một viên tướng Pháp. Nhà ông nằm ở một góc quảng trường, phía bên kia là tòa Thượng Thẩm, nhà ngục Hỏa Lò, một con đường lớn bắt đầu từ cổng trường đại học, xuôi xuống phía dưới là khu Ga Hàng Cỏ. Ông mong đến ngày nước nhà giành độc lập, đại lộ có ngôi nhà của ông sẽ được mang tên một người anh hùng dân tộc mình, như đại lộ Lý Thường Kiệt chẳng hạn.
Tảng sáng, ông Luyện gõ cửa giục hai đứa phải dậy nhanh, quanh nhà đang có những kẻ lạ mặt đi lại nom rất khả nghi. Anh còn đang ôm vợ trong lòng, nghe tiếng bố gọi họ hoảng hồn choàng cả dậy. Ông Luyện giơ ngón tay chỉ hướng cửa sổ. Anh lom khom nhòm ra. Rồi anh thản nhiên thưa, con đưa nhà con về bên kia sẽ quay lại ngay. Ông nói, đưa em về xong con cũng nên về thẳng đơn vị, ở đây có thế nào một mình ba đối phó được. Con được chỉ huy cho về vài ngày mà ba. Ông gắt, chỉ huy cho phép anh về với tôi nhưng tôi lại cho phép anh về với chỉ huy.
Vợ chồng dắt nhau nhảy ra đường, cắm đầu cắm cổ chạy. Tới đầu phố nhà anh ôm chặt chị và dặn, em đi một mình được rồi, anh phải về với ba. Hôm nay rất có thể chúng sẽ nống ra chiếm con đường nhà mình. Nửa thế kỷ nay nó vẫn được gọi là phố Tây mà. Non trưa quả có tiếng tăng bò từ Cửa Nam vào ngã sáu. Súng lớn súng nhỏ loạn xạ, lúc đì đùng lúc lẹt đẹt. Qua chiều ông kỹ sư khí tượng nóng ruột quá mới đánh liều mò lên nghe ngóng xem thử tình hình thế nào. Quay về mặt ông buồn rười rượi, ngồi rũ trong nhà chẳng nói chẳng rằng. Ông kể, bọn chúng vây quanh nhà bác Luyện bắc loa gọi đầu hàng thì sống chống lại thì chết. Thằng quan ba gọi bằng tiếng Pháp. Thằng thông ngôn gọi bằng tiếng Việt. Hàng phố ngồi trong nhà nghe rõ mồn một. Có tiếng súng lục từ trong nhà bắn liền mấy phát trả lời. Bọn Pháp hò nhau lao tới, đứa ném lựu đạn, đứa lia súng. Lúc mấy thằng lom khom leo lên cầu thang có hai phát súng lục bắn ra dọa, chúng phải lùi. Rồi một chốc chúng mang súng máy vào nhà bắn xối xả. Sau đó hò nhau xông lên. Lúc bấy giờ thằng Hoàng rút kíp lựu đạn, hai thằng giặc đổ đè lên xác cha con. Chúng kéo xác họ ra khúc đường sau tòa Thượng Thẩm. Mấy hôm nay tử sĩ chất đống chỗ đó. Hóa ra thằng Hoàng trong tay chỉ có một quả lựu đạn, còn bác Luyện mới là người dùng súng. Lúc ngã súng vẫn còn nằm trong tay chỉ hiềm hết đạn mất rồi. Bà kỹ sư mếu máo, có bảo bác ấy cầm dao thầy thuốc mổ xẻ thì tôi tin chứ bác ấy có để tâm đến súng đạn bao giờ. Ông cứ nghe người đời bịa tạc chứ đã nhìn thấy đâu mà kể như thật. Tôi nói một sự thật, thưa bà. Đấy là từ thằng thông ngôn Việt gian đã kể lại với người bạn tôi vốn là thầy dạy tiếng Pháp của nó. Như thế liệu bà đã chịu tin chưa. Rồi ông đứng dậy làu bàu như chửi đổng, một ngày xấu, c'est il fait mauvais temps.
Suốt mấy tháng trời nhà đóng chặt cửa, không khách khứa, không tiếng động, mỗi người một góc. Cô con gái rầu rĩ ngây dại, ông bà kỹ sư lo không khéo con bé này phát điên thì khổ. May mắn con bé đã không điên nhưng nó nhanh chóng hóa thành một góa phụ mười tám tuổi.
Thế rồi mấy năm sau ông bà kỹ sư lần lượt qua đời để lại một người con gái nay thành bà cô trông nom nhà cửa thắp hương tổ tiên. Và ngong ngóng chờ đợi một cái gì đó chính cô cũng chưa nghĩ ra, chỉ lờ mờ thấy vậy thôi. Kháng chiến 9 năm kết thúc, Hà Nội giải phóng. Một ngày mùa đông có người đàn ông tìm đến đây gõ cửa, thoạt trông cô đã nhanh chóng vỡ lẽ, chính là mình đang đợi người này, đó là ông chủ hiệu ảnh Hàng Gai, quê làng Lai Xá.
Uống xong chén trà, ông mở túi dết mang ra một phong bì rộng trong có tấm ảnh chụp đôi vợ chồng trẻ ngồi bên gốc dâu sân nhà ông hồi nào. Ông từ tốn kể, những năm xa nhà tôi theo bước chân Trung đoàn Thủ đô đi khắp các mặt trận, vẫn nhớ còn mắc nợ vì một lời hứa với anh chị, cũng may vẫn còn kịp. Nghe ông nói thế cô ôm mặt nấc lên, đợi cô lau khô nước mắt ông nói tiếp, mới gặp tôi chưa biết anh ấy là con trai và chị là con dâu bác sĩ Luyện. Vài năm sau có một số người trong Trung đoàn xúm vào xem đống ảnh tôi phơi ngoài đồi cọ vì bị ướt trong lúc vượt sông Đà, họ reo lên, vợ chồng thằng Hoàng chứ còn ai vào đây nữa, sao mà chúng nó đẹp đôi thế! Sau đó các anh ấy đã kể cho tôi nghe sự hy sinh cao cả của bố con ông bác sĩ. Chắc chỉ ít lâu nữa họ sẽ tìm đến thăm chị.
Ông phóng viên nhiếp ảnh ra về, cô vội chạy đi kiếm khung kính lồng tấm ảnh vào, đặt lên bàn thờ. Rồi cô chắp tay khấn khứa.
Em lồng vào khung tấm hình hai ta, bên gốc dâu buổi ấy đặt lên bàn thờ là để thờ anh, cùng mối tình nặng nghĩa, anh biết, đâu nhất thiết phải đi bước nữa, ngắn ngủi một hạnh phúc vậy thôi cũng đủ lắm rồi, cái em mất lớn đến mức không còn luyến tiếc gì thêm nữa.
Trên cõi đời này, ngày lại ngày vui với đàn chim, thầm anh trò chuyện, đã nghe quá nhiều đã thấy quá nhiều và khóc đã quá nhiều, đêm sâu hồn anh lượn bay đậu xuống em nỗi nhớ, gió bấc trời thấp mây đừng nhìn lên, chỉ tin nước mắt.
Ngày mai, lại ngồi bên đường tung thóc gọi chim về...
* * *
Nhiều lúc thấy như ông trời đang đùa con người ta. Nó khiến ta cười chán, buồn chán rồi sau cùng cũng phải sáng mắt ra. Có những giá trị xã hội tưởng mười mươi phải hết ý, phải là vô giá vậy mà bỗng một hôm ai cũng phải giật mình tự hỏi sao lại thế được nhỉ, sao có thể sa xuống một tình cảnh ma bùn đến vậy. Từ đó ta không thể không ngẫm đến thân phận chính mình, không thể không thấy cần phải biết trân trọng những cách sống ít thèm khát thôi, ít ồn ào thôi và cũng nên ít quan trọng thôi. Suy cho cùng cũng chẳng có gì quan trọng lắm. Trên đời hình như không có hiện hữu nào là bền vững lâu dài, họa chăng chỉ có cái bóng mình để lại, trước hết là để lại với những người thân sau là với đời.
Suốt hành trình của mình con người đánh mất, để rơi rất nhiều, chỉ những gì được nó mang trong lòng là còn mãi. Tấm lòng đến với tấm lòng, trọn đời gìn giữ, truyền kiếp gìn giữ, đấy là một sự thật hoàn toàn có thể có một khi nó muốn.
Trong cõi vô cùng của tạo hóa, sinh hoại vốn là lẽ thường tình, có bao nhiêu cách sinh thì có ngần ấy cách hóa. Nhà Phật nói tứ sinh tứ hóa. Ẩm sinh là khuẩn mốc từ ẩm ướt mà ra, khỏa sinh là cái cây để lại hạt, noãn sinh là con gà con chim con rắn đẻ trứng, thai sinh là cách sinh của trâu bò chó lợn và người. Tất cả vẫn đang không ngừng biến hiện, tất cả vẫn đang có, từ cái nọ nhòa vào cái kia chứ chẳng phải đã biến mất. Ta nói chung đó là sự sống bất diệt. Trong sự biến diễn liên miên ấy của muôn loài chỉ riêng con người khi biến đi vẫn còn để lại bóng mình. Có điều, nếu cái bóng ấy mang một vẻ đẹp toàn bích thì chắc chắn sẽ bền lâu, sẽ hóa thành nỗi nhớ, là cái chết mọc cánh. Mà đó mới thật là của nả giàu có vô giá để lại cho mai sau, mãi mãi sống động trong tâm thức mọi người. Không gì nghèo nàn và đáng thương bằng một đám đông chỉ quen sống nhộn nhạo với một tâm thức thô lậu đến tội nghiệp, chẳng khác nào một cánh đồng hoang dần biến thành những tầng vỉa đá ong sống ngáp mòn mỏi. Trong cách nhìn của nhà địa chất, nhà nông học thì đấy là một vùng đất đã bị bào nạo cho tới cằn cỗi, đang ở trong quá trình latêrít hóa đáng lo ngại. Không thể nào nói khác được, đây chính là sự tha hóa nguyên khí nước nhà.
Đi trên đường Hà Nội hôm nay một ngày là một ngày được lặng lẽ đồng hành với những năm tháng xa xăm tràn ngập tinh thần thuần Việt. Nhận ra điều đó ta chỉ còn biết nghẹn ngào thầm nói một lời tạ ơn, tự nhủ mình phải gắng lên sao cho xứng đáng với người đã khuất và để không phải thẹn thùng với con cháu.
Sự không biết xấu hổ rất dễ trở thành căn bệnh tệ hại, nó có thể hủy hoại, làm hoen gỉ sức sống một dân tộc và cũng chỉ có thể chiến thắng nó bằng sức mạnh lấy từ chính niềm tự hào và tự trọng dân tộc.
Vào những lúc không mấy dễ dàng, tôi thường tìm đến một câu dân ca miền Trung sao mà cứng cỏi.
Một quả trứng ung, hai quả trứng ung, ba quả trứng ung, bốn quả trứng ung, năm quả trứng ung, sáu quả trứng ung, bảy quả trứng ung, một con diều tha, một con quạ bắt, con mắt cắt xơi, đừng than phận khó ai ơi, còn da lông mọc còn chồi nảy hoa...
Và tôi càng thêm thương yêu một Hà Nội lấm láp, càng thêm tin một Hà Nội điềm nhiên, mỗi ngày tôi tìm trong từng bước đi của nó một danh dự đất nước. Mất gì cũng là mất nhưng đến mất danh dự mới là mất hết.
Sớm xuân, một nhành mai ngày mới.
Hà Nội, tháng Giêng 2013
Đỗ Chu
Văn bản trên thuộc thể loại
Vận dụng kiến thức về đặc điểm thể loại văn bản, căn cứ vào cách kể chuyện, cách bộc lộ cảm xúc và suy ngẫm của người viết.
Văn bản Đi trên đường Hà Nội của Đỗ Chu thuộc thể loại tùy bút.
Nêu nội dung của văn bản trên:
Đọc toàn bộ văn bản, xác định sự việc chính và những tư tưởng, tình cảm được tác giả gửi gắm qua câu chuyện.
Câu chuyện về gia đình bác sĩ Nguyễn Văn Luyện trong thời kì kháng chiến của dân tộc và những suy ngẫm về cuộc đời.
Câu chuyện về gia đình bác sĩ Nguyễn Văn Luyện gợi cho em những suy nghĩ gì?
Vận dụng kĩ năng đọc hiểu, liên hệ và rút ra ý nghĩa của câu chuyện đối với nhận thức, tình cảm của bản thân.
Câu chuyện về gia đình bác sĩ Nguyễn Văn Luyện gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc:
- Cảm phục lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm và sự hi sinh cao cả của hai cha con bác sĩ Nguyễn Văn Luyện trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.
- Trân trọng tình cảm gia đình, tình nghĩa vợ chồng son sắt và tình yêu thương được gìn giữ ngay cả khi con người phải chia xa vì chiến tranh.
- Cảm nhận sâu sắc những mất mát, đau thương mà chiến tranh gây ra, đặc biệt là nỗi đau của người ở lại.
- Nhận thức được trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ hòa bình, trân trọng lịch sử và sống xứng đáng với sự hi sinh của những người đi trước.
Những dấu hiệu nào giúp em nhận biết văn bản Đi trên đường Hà Nội là một văn bản tuỳ bút?
Vận dụng kiến thức về đặc điểm thể loại tùy bút, chú ý đến cái tôi tác giả, chất trữ tình, yếu tố tự sự và sự đan xen giữa kể chuyện với suy ngẫm.
- Ghi lại những hình ánh. sự việc mà người viết quan sát, chứng kiến về câu chuyện có tên thật, những tên phố, con đường, sự kiện đều là những sự kiện có thật.
- Thể hiện được rõ chủ đề: Tình người trong chiến tranh và những nỗi đau để lại.
- Yếu tố tự sự: Câu chuyện được tác giả kể và dẫn dắt từ chính câu chuyện mà tác giả chứng kiến, quan sát và biết đến.
- Chất trữ tình: Những suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời qua câu chuyện mà tác giả kể lại.
- Cái tôi của tác giả: Thể hiện một góc nhìn khác đầy nhân văn về chiến tranh về Hà Nội yêu dấu.
Qua đoạn văn, em hãy viết đoạn văn ngắn khoảng 10 – 12 câu trình bày quan điểm của em về câu: Mất gì cũng là mất nhưng đến mất danh dự mới là mất hết.
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội; giải thích ý kiến, trình bày quan điểm bằng lí lẽ và dẫn chứng phù hợp, kết hợp bàn luận mở rộng và rút ra bài học nhận thức, hành động.
Gợi ý:
Đoạn văn cần triển khai các ý chính sau:
- Giải thích: Danh dự là sự coi trọng, đánh giá tốt đẹp của bản thân và mọi người đối với nhân cách, phẩm chất, hành động của một người. Mất danh dự là đánh mất niềm tin, sự tôn trọng của người khác do những hành vi sai trái.
- Bàn luận: Danh dự là giá trị tinh thần quý báu, góp phần tạo nên nhân cách và vị thế của mỗi người. Tiền bạc, tài sản mất đi có thể gây dựng lại, nhưng danh dự bị tổn hại thì khó lấy lại niềm tin đã mất. Người biết giữ gìn danh dự sẽ sống trung thực, có trách nhiệm và dám bảo vệ điều đúng đắn.
- Mở rộng: Không nên nhầm lẫn giữa danh dự với sĩ diện hay sự đánh giá của người khác. Khi mắc sai lầm, mỗi người cần dũng cảm thừa nhận, sửa chữa và chịu trách nhiệm thay vì che giấu sự thật.
- Bài học: Cần sống trung thực, giữ lời hứa, tôn trọng người khác và hành động có trách nhiệm để bảo vệ danh dự của bản thân, gia đình và cộng đồng.
II. VIẾT
Viết bài văn thuyết minh có kết hợp yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm và nghị luận về một con phố nổi tiếng ở địa phương em.
- Vận dụng kiến thức về kiểu bài thuyết minh; kết hợp cung cấp thông tin chính xác với kể lại kỉ niệm, miêu tả cảnh vật, bộc lộ cảm xúc và nêu suy nghĩ về giá trị của con phố.
- Bài viết cần có bố cục ba phần, thông tin rõ ràng, phù hợp với đối tượng thuyết minh.
Gợi ý:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề thuyết minh (Một con phố nổi tiếng tại địa phương.)
2. Thân bài:
a. Khái quát về con phố
- Vị trí địa lí, tên gọi và đặc điểm nổi bật.
- Nguồn gốc tên phố hoặc lịch sử hình thành nếu có thông tin đáng tin cậy.
- Vai trò của con phố đối với đời sống người dân địa phương.
b. Miêu tả vẻ đẹp và hoạt động của con phố
- Cảnh quan, kiến trúc, cây xanh, đường sá, các công trình đặc trưng.
- Không khí của con phố vào những thời điểm khác nhau trong ngày.
- Các hoạt động buôn bán, tham quan, vui chơi hoặc sinh hoạt văn hóa đặc trưng.
c. Kể lại một kỉ niệm hoặc câu chuyện gắn với con phố
- Một lần đến thăm, đi qua hoặc tham gia hoạt động tại con phố.
- Những sự việc đáng nhớ và cảm xúc của bản thân.
d. Thể hiện tình cảm và suy nghĩ
- Tình yêu, niềm tự hào đối với con phố và quê hương.
- Ý nghĩa của con phố trong việc lưu giữ lịch sử, văn hóa và ký ức cộng đồng.
- Trách nhiệm giữ gìn cảnh quan, bảo vệ di sản và xây dựng nếp sống văn minh.
3. Kết bài:
Khẳng định giá trị và sức hấp dẫn của con phố.





