Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 11 - Đề số 14
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
Điện thoại đã được cấm sử dụng trong các giờ học ở Pháp, tuy nhiên vào năm học tới, học sinh nước này còn bị cấm sử dụng điện thoại trong giờ ra chơi, giờ ăn trưa và thời gian luân chuyển giữa các tiết học.
Phản ứng của giáo viên và phụ huynh trước lệnh cấm này được chia thành 2 phe đối lập. Một số nói rằng, trẻ phải được “sống trong thời gian riêng của mình”. Ở Pháp, khoảng 93% trẻ từ 12-17 tuổi sở hữu điện thoại di động.
“Ngày nay, trẻ không còn hứng thú với việc vui chơi chạy nhảy trong giờ ra chơi nữa. Tất cả chúng đều dán mắt vào điện thoại. Và dưới góc độ giáo dục thì đó là một vấn đề” – ông Jean-Michel Blanquer, Bộ trưởng Giáo dục Pháp nhận định.
“Điều này là để đảm bảo rằng các quy định và điều luật được tôn trọng. Việc sử dụng điện thoại bị cấm trong lớp học. Với các hiệu trưởng, giáo viên và phụ huynh, chúng ta phải tìm ra cách để bảo vệ học sinh khỏi việc bị mất tập trung vì màn hình và điện thoại” – ông nói.
(Trích bài báo Trường học Pháp cấm điện thoại cả trong giờ ra chơi - dẫn theo Vietnamnet.vn 13/12/2017)
Xác định kiểu văn bản của đoạn trích trên.
Dựa vào mục đích giao tiếp, nội dung và cách triển khai thông tin để xác định kiểu văn bản.
Đoạn trích thuộc văn bản nghị luận.
Xác định câu chủ đề của đoạn văn bản trên.
Đọc toàn đoạn, xác định câu nêu trực tiếp nội dung chính, có khả năng khái quát những thông tin được triển khai phía sau.
Câu chủ đề: Điện thoại đã được cấm sử dụng trong các giờ học ở Pháp, tuy nhiên vào năm học tới, học sinh nước này còn bị cấm sử dụng điện thoại trong giờ ra chơi, giờ ăn trưa và thời gian luân chuyển giữa các tiết học.
Lí do Bộ trưởng Giáo dục Pháp cấm học sinh sử dụng điện thoại trong giờ ra chơi là gì?
Đọc kĩ lời phát biểu của Bộ trưởng Giáo dục Pháp, tìm nguyên nhân được nêu trực tiếp trong văn bản.
Lí do: Ngày nay, trẻ không còn hứng thú với việc vui chơi chạy nhảy trong giờ ra chơi nữa. Tất cả chúng đều dán mắt vào điện thoại. Và dưới góc độ giáo dục thì đó là một vấn đề.
Anh/chị hiểu “sống trong thời gian riêng của mình” là như thế nào?
Giải thích ý nghĩa của cụm từ trong ngữ cảnh, có thể kết hợp nghĩa đen và nghĩa hàm ẩn.
- Câu nói “sống trong thời gian riêng của mình” nghĩa là được có thời gian riêng, dành cho những vấn đề cá nhân mà không ai can thiệp.
Là học sinh, anh/chị có đồng tình với quan điểm của Bộ trưởng Giáo dục Pháp hay không? Vì sao?
Nêu rõ quan điểm cá nhân, sau đó dùng các lí lẽ hợp lí để bảo vệ quan điểm. Có thể đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần.
Gợi ý:
Học sinh có thể đồng tình với quan điểm của Bộ trưởng Giáo dục Pháp vì:
- Việc hạn chế sử dụng điện thoại giúp học sinh tập trung hơn vào các hoạt động học tập và vui chơi.
- Giờ ra chơi là thời gian để học sinh vận động, thư giãn và giao tiếp trực tiếp với bạn bè, thay vì dành phần lớn thời gian cho màn hình điện thoại.
- Hạn chế điện thoại giúp học sinh tăng cường các mối quan hệ thực tế, rèn luyện khả năng giao tiếp và hợp tác.
- Qua đó, học sinh có điều kiện cân bằng giữa thế giới công nghệ và đời sống thực tế.
II. VIẾT
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích cảm nhận của em về cách đợi tàu của hai chị em Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam:
Trống cầm canh ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối. Người vắng mãi, trên hàng ghế chị Tí mới có hai ba bác phu ngồi uống nước và hút thuốc lào. Nhưng một lát từ phố huyện đi ra, hai ba người cầm đèn lồng lung lay các bóng dài: mấy người làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ ở tỉnh về. Bác Siêu nghển cổ nhìn ra phía ga, lên tiếng:
Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại, trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Liên đánh thức em:
An nhổm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào khe khẽ. Mấy năm nay buôn bán kém nên người lên xuống ít, có khi hai chị em đợi chờ chẳng thấy ai. Trước kia, ở sân ga, có mấy hàng cơm mở đón khách, đèn sáng cho đến nửa đêm. Nhưng bây giờ họ đóng cửa cả rồi, cũng im lặng tối đen như ngoài phố. Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình khư kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về! Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng.
Liên vỗ vai em ngồi xuống chóng. An cũng ngồi xuống và ngả đầu vào vai Liên. Tiếng vang động của xe hỏa đã nhỏ dần, và mất dần trong bóng tối, lắng tai cũng không nghe thấy nữa. Sao trên trời vẫn lấp lánh. Cả phố huyện bây giờ mới thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn. Từ phía ga, bóng đêm lồng với bóng người đi về; chị Tí đương sửa soạn đồ đạc và bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, còn vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ.
Trích Hai đứa trẻ - Thạch Lam
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học.
Gợi ý:
1. Mở đoạn: Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận
2. Thân đoạn:
- Chuyến tàu đêm qua phố huyện là niềm vui duy nhất trong ngày của chị em Liên.
+ Mang đến một thế giới khác: ánh sáng xa lạ, âm thanh nao nức, tiếng ồn ào của khách…khác và đối lập với nhịp điệu buồn tẻ nơi phố huyện.
+ Chuyến tàu ở Hà Nội về: trở đầy ký ức tuổi thơ của hai chị em Liên, mang theo một thứ ánh sáng duy nhất, như con thoi xuyên thủng màn đêm, dù chỉ trong chốc lát cũng đủ xua tan cái ánh sáng mờ ảo nơi phố huyện.
- Việc chờ tàu trở thành một nhu cầu như cơm ăn nước uống hàng ngày của chị em Liên. Liên chờ tàu không phải vì mục đích tầm thường là đợi khách mua hàng mà vì mục đích khác:
+ Được nhìn thấy những gì khác với cuộc đời mà hai chị em Liên đang sống.
+ Con tàu mang đến một kỷ niệm, đánh thức hồi ức về kỷ nịêm mà chị em cô đã từng được sống.
+ Giúp Liên nhìn thầy rõ hơn sự ngưng đọng tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối hèn mọn, nghèo nàn của cuộc đời mình.
- Ý nghĩa biểu tượng của chuyến tàu đêm:
+ Hình ảnh con tàu lặp nhiều lần trong tác phẩm.
+ Là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và sự rực rơ ̃ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh với người dân phố huyện.
+ Niềm vui đợi tàu của hai chị em Liên là niềm hạnh phúc thiêng liêng, giúp họ quên đi cuộc sống tăm tối. Nó xuấ phát từ nhu cầu của đời sống tinh thần.
=> Qua tâm trạng của Liên tác giả thể hiện thái độ vừa cảm thương xót xa trước cuộc sống lay lắt, bế tắc của những kiếp người nhỏ bé vừa nâng niu trân trọng những khát vọng đổi đời ở những con người này.
- Khi con tàu đi qua, hai chị em Liên trở về với cuộc sống hiện tại: trở về với bóng đêm, tĩnh lặng với nỗi buồn, tiếc nuối.
- Nghệ thuật:
+ Bút pháp tương phản đối lập.
+ Miêu tả sinh động nhữung biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng của con người.
+ Ngôn ngữ tượng trưng, giàu hình ảnh.
+ Giọng điệu nhẹ nhàng, thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu sắc.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về hiện tượng bạo lực học đường đang xảy ra phổ biến hiện nay.
- Xác định đây là dạng nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống.
- Kết hợp các thao tác: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ.
- Dẫn chứng cần tiêu biểu, xác thực, vừa đủ, tránh kể lan man.
1. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề: Trong môi trường học đường – nơi lẽ ra phải tràn ngập yêu thương, đoàn kết và tri thức – hiện nay lại đang xuất hiện một thực trạng đáng lo ngại: bạo lực học đường.
- Nêu vấn đề nghị luận”: Bạo lực học đường không chỉ gây tổn thương về thể chất và tinh thần cho học sinh mà còn làm suy giảm giá trị đạo đức, nhân cách và văn hóa học đường.
2. Thân bài
a. Giải thích vấn đề
- Bạo lực học đường là hành vi dùng lời nói, cử chỉ hoặc hành động để đe dọa, xúc phạm, đánh đập, cô lập hoặc làm tổn thương người khác trong môi trường học đường.
- Bao gồm cả bạo lực thể chất (đánh nhau, xô đẩy, ẩu đả) và bạo lực tinh thần (chửi bới, bắt nạt, tẩy chay, lan truyền tin xấu trên mạng xã hội…).
b. Thực trạng
- Nhiều vụ việc học sinh đánh nhau, quay clip tung lên mạng, lăng mạ giáo viên, bạn bè xảy ra ở nhiều cấp học.
- Không chỉ nam sinh mà nữ sinh cũng có hành vi bạo lực; bạo lực trực tiếp và bạo lực mạng đều gia tăng.
- Dư luận xã hội phẫn nộ và lo lắng về tình trạng này.
c. Nguyên nhân
- Từ cá nhân: thiếu kỹ năng kiềm chế cảm xúc, thiếu hiểu biết pháp luật, bị ảnh hưởng bởi phim ảnh, game bạo lực.
- Từ gia đình: cha mẹ ít quan tâm, nuông chiều hoặc dùng bạo lực trong giáo dục con cái.
- Từ nhà trường: quản lý lỏng lẻo, giáo dục đạo đức – kỹ năng sống chưa được chú trọng.
- Từ xã hội: ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội, các giá trị lệch lạc, thiếu tấm gương lành mạnh.
d. Hậu quả
- Đối với nạn nhân: tổn thương thân thể, khủng hoảng tâm lý, sợ hãi, tự ti, thậm chí trầm cảm.
- Đối với người gây ra: bị kỷ luật, ảnh hưởng danh dự, có thể vướng vòng lao lý.
- Đối với nhà trường và xã hội: làm xấu hình ảnh môi trường giáo dục, giảm niềm tin của phụ huynh, ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ.
e. Giải pháp
- Gia đình: quan tâm, lắng nghe, giáo dục con bằng tình thương, nêu gương tốt.
- Nhà trường: tăng cường giáo dục đạo đức, kỹ năng sống; kịp thời phát hiện – xử lý nghiêm các hành vi bạo lực.
- Xã hội: quản lý nội dung truyền thông, xây dựng môi trường mạng lành mạnh.
- Bản thân học sinh: rèn luyện lòng nhân ái, biết kiềm chế cảm xúc, biết cảm thông và tôn trọng người khác. Tăng cường hoạt động tập thể: giúp học sinh đoàn kết, chia sẻ, hiểu nhau hơn.
3. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề: Bạo lực học đường là vấn đề nhức nhối, cần được ngăn chặn và loại bỏ.





