Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 11 - Đề số 13
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
“Loài người không được cho sẵn bất cứ cái gì trên mặt đất này. Tất cả những gì anh ta cần - anh ta phải làm ra chúng. Và ở đây loài người đối mặt với sự lựa chọn cơ bản nhất của mình: anh ta chỉ có thể tồn tại được theo một trong hai cách - bằng cách làm việc độc lập với bộ óc của riêng anh ta, hay là trở thành một kẻ ăn bám sống nhờ bộ óc của những người khác. Người sáng tạo chọn cách thứ nhất. Kẻ ăn bám thì chọn cách thứ hai. Người sáng tạo một mình đối mặt với tự nhiên. Kẻ ăn bám đối mặt với tự nhiên thông qua những trung gian.
Mối quan tâm của người sáng tạo là chinh phục tự nhiên. Còn mối quan tâm của kẻ ăn bám là chinh phục con người.
Người sáng tạo sống với lao động của mình. Anh ta không cần gì khác. Mục đích cơ bản của anh ta là chính bản thân anh ta. Kẻ ăn bám sống cuộc đời thứ cấp. Anh ta cần những người khác. Những người khác trở thành động lực chính của anh ta.”
(Trích tiểu thuyết “Suối nguồn”, Ayo Rand, NXB Trẻ, TP HCM, 2017, tr.1174)
Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn trích.
Dựa vào cách tác giả tổ chức các luận điểm, đối chiếu hai đối tượng để xác định thao tác lập luận chính.
Thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn trích là so sánh.
Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những đặc điểm nào của người sáng tạo?
Đọc kĩ văn bản, tìm những câu văn trực tiếp nêu đặc điểm của “người sáng tạo”.
+ Làm việc độc lập với bộ óc của riêng anh ta
+ Một mình đối mặt với tự nhiên; mối quan tâm là chinh phục tự nhiên
+ Sống với lao động của mình, không cần ai khác
+ Mục đích cở bản của anh ta là chính bản thân anh ta
Theo đoạn trích, điểm khác biệt giữa người sáng tạo và kẻ ăn bám khi đối mặt với tự nhiên là gì?
Tìm trực tiếp thông tin được tác giả dùng để đối chiếu hai đối tượng.
Theo đoạn trích điểm khác nhau giữa người sáng tạo và kẻ ăn bám là: Người sáng tạo một mình đối mặt với tự nhiên. Kẻ ăn bám đối mặt với tự nhiên thông qua những trung gian.
Theo anh (chị) việc tác giả khẳng định: Người sáng tạo sống với lao động của chính mình / Anh ta không cần ai khác” có ý nghĩa gì?
Phân tích ý nghĩa của nhận định trên cả phương diện nội dung và thông điệp; tránh hiểu “không cần ai khác” theo nghĩa phủ nhận hoàn toàn vai trò của cộng đồng.
Gợi ý:
- Tác giả đề cao, ca ngợi người sáng tạo.
- Đồng thời tác giả muốn nói người sáng tạo luôn có khả năng tự lập, khả năng sáng tạo, có lòng tự trọng cao, không cần dựa dẫm, ỷ lại vào bất kì ai nhằm khẳng định giá trị bản thân bằng chính lao động của mình và để sống một cuộc đời thật sự có ý nghĩa …
Anh/chị có đồng tình với ý kiến: “Mối quan tâm của người sáng tạo là chinh phục tự nhiên. Còn mối quan tâm của kẻ ăn bám là chinh phục con người”? Vì sao?
Thực hiện thao tác bình luận: nêu rõ quan điểm, lí giải bằng những lập luận hợp lí, đồng thời có thể mở rộng để nhìn nhận vấn đề toàn diện.
Gợi ý: Có thể đồng tình với ý kiến trên.
- “Chinh phục tự nhiên” có thể hiểu là con người dùng trí tuệ, lao động và sáng tạo để khám phá, cải tạo tự nhiên, tạo ra những giá trị hữu ích cho cuộc sống.
- “Chinh phục con người” trong ngữ cảnh đoạn trích có thể hiểu là tìm cách chi phối, lợi dụng hoặc phụ thuộc vào người khác để đạt mục đích cá nhân.
- Người sáng tạo thường hướng năng lực của mình vào tạo ra giá trị, giải quyết vấn đề và vượt qua những giới hạn của tự nhiên.
- Ngược lại, người sống dựa dẫm dễ coi người khác là phương tiện để đạt được lợi ích cho bản thân, từ đó hình thành lối sống ích kỉ, vụ lợi và thiếu tự chủ.
- Tuy nhiên, không nên hiểu rằng mọi sự quan tâm đến con người đều là tiêu cực. Con người vẫn cần hợp tác, yêu thương, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau. Điều đáng phê phán là việc lợi dụng hoặc thao túng người khác để phục vụ lợi ích cá nhân.
II. VIẾT
Viết đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ trình bày say nghĩ của em về vai trò của tính kiên trì trong cuộc sống.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: vai trò của tính kiên trì trong cuộc sống.
- Sử dụng các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận.
- Đoạn văn cần bảo đảm dung lượng khoảng 200 chữ, có mở đoạn, triển khai vấn đề và kết đoạn.
1. Mở đoạn:
Nêu vấn đề nghị luận: Tính kiên trì là phẩm chất quan trọng giúp con người vươn lên và đạt được thành công trong cuộc sống.
2. Thân đoạn:
- Giải thích khái niệm:
+ Kiên trì là đức tính bền bỉ, không bỏ cuộc, biết nỗ lực không ngừng dù gặp khó khăn, thất bại.
+ Là khả năng theo đuổi mục tiêu đến cùng, không dao động trước thử thách.
- Phân tích vai trò của tính kiên trì:
+ Giúp con người vượt qua trở ngại, rèn luyện bản lĩnh và ý chí vững vàng.
+ Là chìa khóa của thành công: nhiều người tài năng nhưng thiếu kiên trì nên dễ thất bại; ngược lại, người kiên trì sẽ gặt hái kết quả nhờ sự cố gắng không ngừng.
+ Giúp con người trưởng thành hơn trong suy nghĩ, biết trân trọng giá trị của lao động và thành quả đạt được.
- Dẫn chứng minh họa (hs tự lấy dẫn chứng):
+ Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký luyện viết bằng chân;
+ Thomas Edison thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện;
- Phê phán: Những người nản chí, bỏ cuộc giữa chừng, hoặc sống ỷ lại, thiếu nỗ lực sẽ khó đạt được mục tiêu và thường dễ thất bại.
3. Kết đoạn
Tổng kết vấn đề nghị luận
Phân tích bức tranh phố huyện lúc về đêm cho đến khi đoàn tàu đi qua trong tác phẩm Hai đứa trẻ của
Thạch Lam.
An đã nằm xuống gối đầu lên đùi chị, mí mắt sắp sửa rơi xuống, còn dặn với:
Liên khẽ quạt cho An, vuốt lại mái tóc tơ. Đầu em bé nặng dần trên người Liên; chị ngồi yên không động đậy. Qua khe lá của cành bàng ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu.
Trống cầm canh ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối. Người vắng mãi, trên hàng ghế chị Tí mới có hai ba bác phu ngồi uống nước và hút thuốc lào. Nhưng một lát từ phố huyện đi ra, hai ba người cầm đèn lồng lung lay các bóng dài: mấy người làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ ở tỉnh về. Bác Siêu nghển cổ nhìn ra phía ga, lên tiếng:
Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi. Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vang lại, trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi. Liên đánh thức em:
An nhổm dậy, lấy tay dụi mắt cho tỉnh hẳn. Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi. Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào khe khẽ. Mấy năm nay buôn bán kém nên người lên xuống ít, có khi hai chị em đợi chờ chẳng thấy ai. Trước kia, ở sân ga, có mấy hàng cơm mở đón khách, đèn sáng cho đến nửa đêm. Nhưng bây giờ họ đóng cửa cả rồi, cũng im lặng tối đen như ngoài phố.
Hai chị em chờ không lâu. Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
Liên cầm tay em không đáp. Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình khư kém sáng hơn. Nhưng họ ở Hà Nội về! Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu. Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng.
Liên vỗ vai em ngồi xuống chóng. An cũng ngồi xuống và ngả đầu vào vai Liên. Tiếng vang động của xe hỏa đã nhỏ dần, và mất dần trong bóng tối, lắng tai cũng không nghe thấy nữa. Sao trên trời vẫn lấp lánh. Cả phố huyện bây giờ mới thật là hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn. Từ phía ga, bóng đêm lồng với bóng người đi về; chị Tí đương sửa soạn đồ đạc và bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, còn vợ chồng bác xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ.
Liên quay lại nhìn em thấy An cũng đã ngủ say, tay nắm chặt tà áo chị và đầu vẫn dựa vào vai. Liên nhìn quanh đêm tối, gió đã thoáng lạnh và đom đóm không còn nữa. Chị cúi xuống vực em vào trong hàng, mắt cũng đã ríu lại. Chị gài cửa cẩn thận và vặn nhỏ đèn đặt trên cái quả thuốc sơn đen. Rồi Liên đến bên em nằm xuống. Chị gối đầu lên tay nhắm mắt lại. Những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên và hình ảnh của thế giới quanh mình mờ đi trong mắt chị. Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ. Nhưng Liên không nghĩ được lâu; mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối.
(Trích Hai đứa trẻ - Thạch Lam)
- Xác định đây là dạng bài nghị luận văn học phân tích một đoạn trích, tập trung vào bức tranh phố huyện về đêm và sự xuất hiện của đoàn tàu.
- Vận dụng các thao tác phân tích, chứng minh, bình luận, tổng hợp.
- Cần làm nổi bật qua bức tranh phố huyện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Yêu cầu hình thức:
- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản.
- Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
Yêu cầu nội dung:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Dẫn dắt vấn đề.
2. Thân bài:
* Cảnh phố huyện về đêm
- Khung cảnh:
+ Bóng tối bao la phủ trùm tất cả, cả phố huyện chìm trong bóng tối.
+ Ánh sáng nhỏ bé yếu ớt chỉ là quầng, là khe, là vệt, là chấm và cuối cùng chỉ là hột sáng thưa thớt.
⇒ Có sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, hình ảnh ngọn đèn leo lét nơi quán hàng chị Tí là biểu tượng cho kiếp sống nhỏ nhoi lay lắt, mù tối của những người cùng khổ trong biển đêm mênh mông của cuộc đời. Ngọn đèn ấy tuy yếu ớt nhưng vẫn là niềm lạc quan sống của những kiếp người nhỏ bé vô danh, vô nghĩa không tương lai, hạnh phúc trong xã hội cũ.
- Sinh hoạt của con người:
+ Các nhà đóng cửa im lìm.
+ Gánh phở của bác Siêu so với mẹ con chị Tí có phần khấm khá hơn nhưng lại đứng trước nguy cơ đáng sợ hơn: thất nghiệp. Bởi ở vùng quê này thứ quà của bác Siêu là một thứ quà xa xỉ.
+ Vợ chồng bác Xẩm sống trong cảnh màn trời chiếu đất, trông chờ vào của bố thí ở nơi đây => sự trông chờ trong vô vọng.
+ Mẹ con chị Tí: hàng nước đơn sơ.
+ Chị em Liên: quán nhỏ.
⇒ Nghèo khổ, nhàm chán, tẻ nhạt, vô vị.
* Tâm trạng của Liên:
- Đêm tối với Liên quen lắm, chúng chẳng đáng sợ.
- Rồi Liên hoài tưởng về quá khứ tươi đẹp ở Hà Nội, nơi có một vùng sáng rực và lấp lánh.
- Như mọi người dân trong phố huyện Liên luôn mong chờ một cái gì đó mới mẻ, tươi sáng sẽ đến xua tan đi đêm đen âm u lụi tàn ở phố huyện.
⇒ Bằng trái tim đôn hậu, dịu dàng Thạch Lam đã phát hiện ra những rung động sâu xa, những khao khát thầm kín trong cuộc đời những con người tưởng như hoàn toàn an phận ấy.
3. Kết bài:
Nêu cảm nhận chung.





