Đề thi thử học kì 1 Văn 12 - Đề số 1
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
(1) Toàn cầu hoá đã và đang tạo nên xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giúp các dân tộc, quốc gia xích lại gần nhau để hợp tác, trao đổi, giao lưu, học hỏi, cùng nhau phát triển.
(2) Tuy nhiên, phát triển trong bối cảnh quốc tế mới với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, văn hoá dân tộc cũng chịu những tác động trái chiều, rõ nhất là mặt trái của quá trình toàn cầu hoá, kinh tế thị trường và sự lấn át của các phương tiện truyền thông mới, Internet, mạng xã hội. Biên cương văn hoá tư tưởng của quốc gia cũng chịu nhiều thách thức trước sự xâm lấn của các nền tảng xuyên biên giới.
(3) Từ thực tiễn cho thấy trong quá trình toàn cầu hoá, nhất là với lĩnh vực văn hoá, nếu không có bộ lọc đủ mạnh, thiếu bản lĩnh và tính sáng tạo sẽ nguy cơ dẫn tới tiếp thu một cách thụ động, vội vã, ồ ạt. Từ đó rất dễ dẫn đến tình trạng nguồn lực, sức mạnh nội sinh trong nước bị những yếu tố ngoại sinh lấn át, chi phối; từ đó làm triệt tiêu tính đa dạng văn hoá dân tộc, tự đánh mất bản sắc, cội rễ và truyền thống văn hoá của dân tộc mình. Không thể phủ nhận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là bước phát triển nhảy vọt của văn minh nhân loại, mở ra những không gian mới, mang lại những loại hình dịch vụ, giải trí tiện lợi cho con người, hướng tới sự phát triển toàn diện.
[...]
(4) Cần nhận thức rằng việc tiếp thu văn hoá thế giới phải có sự chọn lọc trên cơ sở các giá trị truyền thống, bản lĩnh văn hoá dân tộc. Phải tạo sức đề kháng văn hoá với những bộ lọc, vách ngăn cần thiết để đẩy lùi và chống lại sự xâm lấn của những trào lưu phản văn hoá, các luồng tư tưởng có nội dung xấu độc. Công tác quảng bá, lan toả hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế cần được đẩy mạnh.
(Nguyễn Huy Phòng, Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, dẫn theo nhandan.vn, 25- 07- 2023)
Xác định luận đề của đoạn trích.
- Vận dụng kiến thức về luận đề của văn bản nghị luận.
- Xác định vấn đề trung tâm được tác giả tập trung bàn luận xuyên suốt văn bản.
Luận đề của văn bản là bàn về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình toàn cầu hóa đất nước.
Chỉ ra 01 thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn (2).
- Vận dụng kiến thức về các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ.
- Căn cứ vào cách triển khai lí lẽ trong đoạn văn để xác định thao tác.
- Thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn (2) là: chứng minh, bình luận.
- Chỉ ra thao tác lập luận:
+ Thao tác lập chứng minh: Tuy nhiên, phát triển trong bối cảnh quốc tế mới với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, văn hoá dân tộc cũng chịu những tác động trái chiều, rõ nhất là mặt trái của quá trình toàn cầu hoá, kinh tế thị trường và sự lấn át của các phương tiện truyền thông mới, Internet, mạng xã hội.
+ Thao tác lập luận bình luận: Biên cương văn hoá tư tưởng của quốc gia cũng chịu nhiều thách thức trước sự xâm lấn của các nền tảng xuyên biên giới.
Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng trong câu văn:“Phải tạo sức đề kháng văn hoá với những bộ lọc, vách ngăn cần thiết để đẩy lùi và chống lại sự xâm lấn của những trào lưu phản văn hoá, các luồng tư tưởng có nội dung xấu độc.”.
- Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ
- Phân tích tác dụng trên các khía cạnh: nội dung, nghệ thuật, cảm xúc
- Biện pháp tu từ ẩn dụ: các từ ngữ sức đề kháng, bộ lọc, vách ngăn được sử dụng với một tầng nghĩa hoàn toàn mới.
- Hiệu quả:
+ Làm nổi bật thông điệp: cần phải có ý thức tự giác và những hành động cụ thể để bảo vệ giữ gìn những giá trị truyền thống trước tác động mạnh mẽ, lấn át của quá trình toàn cầu hoá, các sản phẩm công nghệ và nền kinh tế thị trường.
+ Cách diễn đạt hình ảnh, mới mẻ, ấn tượng, làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu văn.
Nêu quan điểm của tác giả thể hiện trong đoạn trích.
Quan điểm thường được thể hiện rõ qua các nhận định, đánh giá và đề xuất giải pháp của người viết, đặc biệt ở phần cuối văn bản.
Quan điểm của người viết:
- Dùng lập luận, lí lẽ và bằng chứng một cách khoa học để trình bày vấn đề toàn diện, khách quan.
- Tác giả kết luận rằng toàn cầu hóa là một quá trình tất yếu, khách quan, chứa đựng nhiều thời cơ và những thách thức to lớn; khẳng định việc cần phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Anh/ chị có đồng tình với ý kiến của tác giả khi cho rằng: “Công tác quảng bá, lan toả hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế cần được đẩy mạnh.” không? Vì sao? (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng).
- Vận dụng kĩ năng bày tỏ quan điểm cá nhân và lập luận để bảo vệ quan điểm.
- Có thể đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần, miễn là quan điểm rõ ràng, lí giải hợp lí, thuyết phục.
* Trường hợp 1: Đồng tình với ý kiến của tác giả
- Công tác quảng bá, lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam là việc làm cần thiết trong quá trình hội nhập quốc tế, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
- Giúp bạn bè quốc tế hiểu biết, trân trọng những giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống tốt đẹp của Việt Nam.
- Góp phần khẳng định hình ảnh, vị thế và bản sắc Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
- Qua hoạt động quảng bá, mỗi người có thêm cơ hội thể hiện tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc và trách nhiệm với văn hóa dân tộc.
- Tuy nhiên, việc quảng bá cần chân thực, có chọn lọc, văn minh, tránh chạy theo xu hướng hoặc quảng bá những giá trị lệch lạc.
* Trường hợp 2: Không đồng tình/đồng tình một phần với ý kiến của tác giả
- Học sinh có thể cho rằng không nhất thiết phải đẩy mạnh công tác quảng bá, bởi giá trị của một đất nước trước hết cần được tạo dựng bằng những thành tựu và giá trị thực chất trong đời sống.
- Nếu quá chú trọng quảng bá mà thiếu sự đầu tư vào việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và nâng cao chất lượng đời sống, hoạt động quảng bá có thể trở nên hình thức.
- Việc giới thiệu hình ảnh đất nước cần được thực hiện tự nhiên, chân thực, không chạy theo số lượng hay sự nổi tiếng trên truyền thông.
- Vì vậy, có thể đồng tình với mục đích quảng bá nhưng cho rằng cần cân bằng giữa quảng bá và bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa thực chất.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về những việc tuổi trẻ cần làm để có được hạnh phúc mỗi ngày.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: những việc tuổi trẻ cần làm để có được hạnh phúc mỗi ngày.
- Cần có lí lẽ và dẫn chứng phù hợp
- Dung lượng đoạn văn khoảng 150 chữ, bảo đảm tính thống nhất, mạch lạc.
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: những việc tuổi trẻ cần làm để có được hạnh phúc mỗi ngày.
- Hạnh phúc là trạng thái tinh thần vui vẻ, là sự thỏa mãn của con người khi đạt được một điều tốt đẹp trong cuộc sống.
- Những việc tuổi trẻ cần làm để có được hạnh phúc mỗi ngày:
+ Tuổi trẻ cần tạo cho mình những thói quen lành mạnh
+ Các bạn trẻ cần trao đi yêu thương để nhận lại hạnh phúc cho chính mình, sống lạc quan, tích cực,...
+ Tuổi trẻ cần học cách chấp nhận những điều bi quan và chủ động đối mặt với thử thách để bảo vệ hạnh phúc cho mình.
+.....
- Dẫn chứng (nếu có)
- Khẳng định vấn đề và liên hệ bản thân.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 - 500 chữ) phân tích nhân vật người cô trong đoạn trích sau:
(Lược một đoạn: Phần đầu truyện kể về hoàn cảnh của nhân vật cô tôi, một người phụ nữ xinh đẹp. Hoàn cảnh nghèo, đói đã xua đuổi cô tôi ra khỏi chốn quê hương, bản quán, cô phiêu dạt lên tận miền thượng du biên giới Lào Cai. Cô đã trải qua hai cuộc hôn nhân nhưng hạnh phúc đều không trọn vẹn. Cô có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc với người chồng đầu tiên, một “sự hoà hợp tuyệt hảo” nhưng cô chú lại không có con và ngoài bốn mươi tuổi, chú bị tai nạn, đột ngột qua đời, lúc đó cô mới 30 tuổi. Người chồng thứ hai, có ả nhân tình ngang ngược. Khi mọi chuyện vỡ lở người chồng cũng ân hận quá, xin lỗi vợ và tình nguyện ra một mặt trận ác liệt để lập công chuộc tội nhưng ông hi sinh ngay ở trận đầu...)
Cô tôi cả đời thiệt thòi nhưng luôn nín nhịn, hỉ xả, trọn vẹn nghĩa tình. Cô chăm chỉ, chịu thương chịu khó, việc thổ mộc, nhỏ như cắt cỏ, đánh gianh, lớn như cuốc cày, trồng tỉa, chăn nuôi, thảy đều thông minh, giỏi giang. Cô sống với ai cũng được người ta yêu mến, kính mộ vì cô luôn mến mộ, cưu mang họ [...]
Người đàn bà đẹp lấp nỗi trống trải không chồng, không con bằng việc vất vả, hiến dâng cho tập thể, được quan niệm như một thực thể thiêng liêng hơn cá nhân bà gấp bội.[...] nhớ đến cuộc hoả hoạn xuất kì bật ý năm nào thiêu trụi hơn phân nửa nhà cửa phân xưởng sản xuất bún đậu; bà là người nhặt nhạnh từng mảnh vụn tâm hồn người đang buồn nản, gom lại, thổi vào họ một nguồn sinh lực mới. Bà dốc đến lai vàng cuối cùng vào vốn liếng cuộc vui vầy mới của tập thể. Tận tâm tận lực với mọi người, không tơ hào một xu kẽm công của, không đòi hỏi một ưu đãi dù là cỏn con, chứ đừng nói là lạm dụng quyền hành, bà là nhân chứng sinh động của một luận đề ngày càng khó chứng minh: quyền lực có thể làm cho con người tốt đẹp thêm lên! Bà được tuyên dương là chủ nhiệm hợp tác xã gương mẫu...
Tôi lên Lào Cai làm giáo viên, gặp cô tôi lúc mọi sự làm ăn còn đang thuận chiều. Thân quyến họ hàng nội ngoại tôi chẳng còn ai ngoài tôi và cô tôi. Vì vậy, tìm được tôi, cô tôi càng quý mến tôi bội phần. Cô là người mẹ của vợ chồng tôi. Cô toả vào gia đình tôi một tình thương mến mẫu tử thực sự với một phong cách riêng: chuộng việc, chuộng tình, không chuộng lời.
Khi đã ngoài năm mươi, theo nằn nì của tôi, cô tôi bằng lòng về ở với gia đình tôi. Tuổi mỗi ngày một cao, sức mỗi ngày một yếu, tôi nghĩ hẳn là cô tôi cần sự nương tựa, cậy nhờ vào con cháu. Vậy mà trên thực tế bà chẳng bao giờ tỏ ra như vậy. Bà cho chúng tôi rất nhiều và chẳng bao giờ nhờ vả lại chúng tôi. Vẫn là phong thái một người lao động, quen sống tự lập, lắm khi bà cứ như một người khách lạ trong nhà, có một sự cách bức tế nhị, rất ngại phiền hà vợ chồng tôi [...]
(Trích Miền an lạc vĩnh hằng1, Ma Văn Kháng2, 100 truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2017, tr. 269 – 272)
* Chú thích:
1 Miền an lạc vĩnh hằng là truyện ngắn viết vào năm 1994, truyện khắc họa một bức tranh bi thương về cuộc đời nhân vật người cô, xuất thân từ một vùng quê nghèo khó, phải rời bỏ quê hương để phiêu bạt lên tận miền thượng du biên giới Lào Cai. Nỗi đau mất mát, sự bất hạnh dường như đeo bám cô suốt cuộc đời nhưng cô vẫn luôn giữ vững tinh thần lạc quan, kiên cường, chịu đựng mọi gian khổ, làm lụng vất vả để nuôi sống bản thân.
2 Ma Văn Kháng là cây bút nổi bật trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam. Ông đã sáng tác hơn 20 tiểu thuyết, gần 200 truyện ngắn, phần lớn lấy cảm hứng từ sử thi và thế sự đời tư. Truyện ngắn của Ma Văn Kháng có sự kết hợp giữa tính hiện thực và tính nhân văn, giữa triết lí và trữ tình; quan tâm đến vấn đề giá trị đạo đức giữa biến động lớn lao của thời cuộc.
- Phân tích nhân vật qua ngoại hình, hành động, lời nói, suy nghĩ, mối quan hệ với các nhân vật khác.
- Chú ý những chi tiết tiêu biểu và cách người kể chuyện đánh giá nhân vật.
- Đánh giá phẩm chất, vẻ đẹp và ý nghĩa hình tượng nhân vật.
- Phân tích một số nét nghệ thuật xây dựng nhân vật.
1. Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hình tượng nhân vật người cô.
2. Thân bài:
* Nội dung:
a. Hình ảnh người cô một được khắc họa một cách chân thực, là một người có hoàn cảnh, số phận bi đát, bất hạnh.
- Xuất thân từ một vùng quê nghèo, vì hoàn cảnh mà phải rời bỏ quê hương, phiêu dạt lên Lào Cai.
- Hai lần kết hôn nhưng đều không có được hạnh phúc trọn vẹn:
+ Người chồng đầu tiên là người cô có sự hòa hợp tuyệt vời lại đột ngột qua đời.
+ Người chồng thứ hai phản bội; sau đó ân hận và hi sinh nơi chiến trận.
- Không chồng, không con, tuổi càng cao càng phải đối diện với sự cô đơn.
b. Hình ảnh người cô mang vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam:
- Chịu thương, chịu khó vươn lên trong mọi hoàn cảnh: “việc thổ mộc, nhỏ như cắt cỏ, đánh gianh, lớn như cuốc cày, trồng tỉa, chăn nuôi, thảy đều thông minh, giỏi giang.”
- Một người phụ nữ có tấm lòng nhân hậu, yêu thương mọi người đặc biệt là những người ruột thịt:
+ “Sống với ai cũng được người ta yêu mến, kính mộ”.
+ Trong vụ hỏa hoạn, bà không chỉ giúp đỡ về vật chất mà còn: “nhặt nhạnh từng mảnh vụn tâm hồn người đang buồn nản”; “gom lại, thổi vào họ một nguồn sinh lực mới”.
- Một người phụ nữ gương mẫu, luôn nêu cao tinh thần tập thể và đặt lợi ích của tập thể lên trên:
+ “Tận tâm tận lực với mọi người”, “Không tơ hào một xu kẽm công của”, “Không đòi hỏi một ưu đãi dù là cỏn con”.
+ Bà dốc “đến lai vàng cuối cùng” vào cuộc sống chung của tập thể.
=> Chủ đề: Tác giả thể hiện sự trân trọng, cảm phục đối với những con người bình dị nhưng có nhân cách cao đẹp
* Nghệ thuật:
- Nhân vật được khắc họa chủ yếu qua hành động, việc làm, cách ứng xử và các mối quan hệ.
- Người kể chuyện xưng “tôi”, vừa là người quan sát vừa là người trực tiếp nhận tình yêu thương của người cô tạo cảm giác gần gũi, chân thực và giàu cảm xúc.
- Ngôn ngữ kể chuyện mộc mạc nhưng giàu chất suy ngẫm, trữ tình.
- Cách xây dựng nhân vật có sự kết hợp giữa khắc họa số phận và khám phá vẻ đẹp tâm hồn, qua đó làm nổi bật giá trị nhân văn của tác phẩm.
3. Kết bài:
- Khẳng định vấn đề nghị luận; ý nghĩa thông điệp.





