Đề thi thử học kì 1 Văn 12 - Đề số 2
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
(Lược đoạn đầu: Trong đêm tân hôn, Quyên nhận ra Phúc lơ đãng, cô gặng hỏi và được anh kể câu chuyện về cô Hoàn - người chị ruột đã chăm sóc bố anh từ nhỏ khi cha mẹ hai người mất sớm. Thậm chí, cô Hoàn còn không lấy chồng dẫu bên đó sẵn sàng nhận chăm nuôi cả người em vì lo rằng em trai của mình sẽ phải chịu khổ.)
Nhưng mấy năm sau, khi có một nhà giàu không có con trai, muốn nhận người em cô làm rể thì cô lại khẩn khoản xin em nhận lời, gửi rể…
– Chúng ta bây giờ bồ côi bồ cút, tìm được một chỗ tử tế mà nương tựa là phúc lắm. Em không nên bỏ lỡ.
– Em đợi chị lấy chồng rồi mới tính đến lượt em.
– Ngộ không có ai lấy chị?
– Thì em sẽ chẳng lấy ai, ở vậy mà thờ chị.
– Sao em nói thế? Em không nghĩ đến việc nối dõi tông đường hay sao?
Bị chị thúc bách nhiều quá, người em đành thuận vậy. Ngày vui mừng của em gần tới thì chị bị đau mắt nặng. Rồi chị hỏng cả hai mắt. Cả một đời con gái lỡ! Câu nói gỡ buột miệng nói ra hôm nào, không ngờ thành sự thực. “Ngộ không có ai lấy chị?”… Có ai lấy một thiếu nữ mù làm chi! Người em khóc như mưa như gió, thương chị lắm. Nhưng chị bảo:
– Em đừng nghĩ ngợi làm gì lắm. Đất nhà ta thế: đời nào cũng phải có một người mù hoặc chột. Người này chết, tự nhiên người khác bị. Chị cảm ơn trời Phật lắm! Chị được mù để khỏi lo em mù là may lắm rồi.
Em cảm động lắm, khóc rưng rưng bảo:
– Nhưng trời bắt chị như thế này, em không thể ở rể nhà người ta được. Em không lấy vợ. Em nhất định ở vậy mà nuôi chị.
– Em đừng nghĩ thế. Em cứ lấy vợ đi. Bây giờ chị chỉ còn mong em sớm có con; chị sẽ ở với vợ chồng em suốt đời mà bế các cháu. Mà rồi, chỉ còn việc bế trẻ con là làm được. Chị được bế con cho em thì còn gì hơn? Chị đã không có con để bế, nếu không được bế cháu thì buồn chết!
Người em đành lấy vợ và xin phép bố mẹ vợ cho rước chị về nhà vợ. Người chị mù không chịu để em nuôi. Cô vẫn chống gậy, lần ra chợ bán thuốc kiếm ăn. Cho mãi đến khi em được đứa con đầu lòng, bấy giờ người em mới ép được chị ở nhà để bế cháu, không được mò ra chợ nữa…
Phúc kể đến đây thì ngừng lại. Chàng hơi nhíu cặp lông mày. Chàng suy nghĩ hay khó chịu. Có lẽ chàng do dự. Nên nói tất cả ra chăng? Hay giấu giếm bớt đi một phần sự thật, mà nếu phải nói ra chắc chàng ngượng lắm…Nét mặt chàng, nhất là đôi mắt, buồn bã hơn một chút. Thở dài một tiếng xong, chàng bùi ngùi kể tiếp.
(Lược một đoạn: Sau này cô Hoàn rời khỏi nhà em trai, về ở với một người dì và sống bằng nghề bán thuốc. Gia đình người em ngày càng bận rộn, làm ăn phát đạt, rồi dần dần quên mất cô. Người cháu cũng trưởng thành, lên Hà Nội học, mải mê với cuộc sống mới nên không còn thiết tha về thăm cô. Một lần tình cờ đi qua làng cũ, cậu ghé thăm và thấy cô Hoàn đã già yếu, tóc bạc, sống cô đơn, kiếm sống bằng việc bán thuốc và trông trẻ thuê. Dù cuộc sống nghèo khó, cô vẫn tìm được niềm vui trong tiếng cười khóc của trẻ thơ như một sự an ủi cho quãng đời còn lại).
Mới đầu cô không biết cháu là ai. Và khi đứa cháu đã nói rõ cho cô biết thì cô reo lên, cười rồi khóc. Cô chìa bàn tay run run về phía nó. Chà! Nó đã lớn lắm rồi đây nhỉ. Cô hỏi nó bao nhiêu là chuyện! Nó học mãi trên Hà Nội. Ồ! Xa nhỉ!… Nó đã đỗ tú tài. Ồ! Giỏi nhỉ!… Rặt những “ồ”, những “à” như vậy. Người cô tiếc nuối không còn đôi mắt để nhìn nó. Cô sờ lại. Ồ! Nó giống thầy nó ngày xưa như đúc! Chắc nó cũng ngoan như thầy nó ngày xưa đấy. Thầy nó ngày xưa ngoan lắm! Thầy nó ngày xưa học chăm mà sáng lắm! Thầy nó ngày xưa… thầy nó ngày xưa… Cô kể lại biết bao nhiêu là chuyện về thầy nó ngày xưa, với một giọng tha thiết lắm. Hình như thầy nó ngày xưa là hình ảnh cuối cùng in trong đáy đôi mắt đã khép kín hẳn lại. Sau những hình ảnh ấy, chẳng còn một hình ảnh nào nữa chồng lên trên….
Cuối cùng cô bỗng reo lên:
– À,cháu có vợ chưa?
Và khi biết rằng chưa…
– Ồ! Cháu hư lắm! Thầy cháu ngày xưa bằng tuổi cháu đã có con rồi. Cháu phải lấy vợ đi! Lấy mau lên! May ra cô còn sống mà ăn cưới cháu. Đám cưới cháu chắc là to đấy nhỉ? Cưới vợ cậu tú mà chả to!
*
* *
Quyên hỏi Phúc:
– Thế cô ấy có được tin không mà không về ăn cưới chúng ta?
– Cô ấy chết rồi.
– Thế thì anh còn nghĩ làm gì?
– Để mà buồn. Bởi vì giá cô Hoàn còn sống thì cũng chả chắc cô ấy về ăn cưới chúng ta đâu. Ai còn nghĩ đến cô? Chỉ còn một mình anh. Mà lòng lại hỏi lòng, anh nhận ra rằng chẳng bao giờ anh có can đảm mời cô về để khoe với bao nhiêu khách sang trọng nhà em và chính em…
(Trích Chuyện buồn giữa đêm vui, Nam Cao, Tuyển tập Nam Cao, NXB Văn học, 2002)
Xác định ngôi kể và chỉ ra dấu hiệu nhận biết ngôi kể được sử dụng ở đoạn trích trên.
- Vận dụng kiến thức về ngôi kể trong truyện.
- Căn cứ vào đại từ xưng hô, cách gọi nhân vật và vị trí của người kể chuyện để xác định ngôi kể.
- Ngôi kể: ngôi thứ ba
- Dấu hiệu nhận biết ngôi kể:
+ Người kể chuyện không sử dụng các đại từ xưng hô ở ngôi thứ nhất mà gọi các nhân vật bằng tên riêng.
+ Người kể chuyện không tham gia trực tiếp vào các sự kiện, tình huống, diễn biến trong câu chuyện mà đóng vai trò quan sát, tường thuật lại sự việc từ bên ngoài.
Nhận xét về nhân vật cô Hoàn trong đoạn trích.
- Vận dụng kĩ năng phân tích, nhận xét nhân vật trong tác phẩm tự sự.
- Căn cứ vào hoàn cảnh, hành động, lời nói, tâm trạng và mối quan hệ của nhân vật với những người xung quanh.
- Nhận xét cần làm nổi bật cả phẩm chất và số phận của nhân vật.
Nhận xét về nhân vật cô Hoàn:
- Cô dành cả tuổi trẻ để chăm sóc, vun vén cho em trai; thậm chí hi sinh hạnh phúc riêng để em có cơ hội xây dựng gia đình.
- Khi bị mù, cô vẫn nghĩ cho em, không muốn trở thành gánh nặng; luôn mong em lấy vợ, có con và tìm được hạnh phúc.
- Cô yêu thương các cháu, tìm niềm vui trong việc bế trẻ, trông trẻ, dù bản thân sống trong cảnh nghèo khó.
- Cô là người giàu tình cảm, thủy chung với quá khứ, luôn lưu giữ hình ảnh người em trai trong kí ức.
- Tuy nhiên, đằng sau vẻ đẹp ấy là một số phận bất hạnh, cô đơn, chịu nhiều thiệt thòi: mất cha mẹ sớm, lỡ dở chuyện hôn nhân, bị mù, sống nghèo khổ và cuối đời gần như bị những người thân yêu lãng quên.
=> Cô Hoàn vừa là hình ảnh đẹp đẽ của người phụ nữ giàu đức hi sinh, vừa là một con người đáng thương bởi những hi sinh của cô không được đáp đền tương xứng.
) Việc cô Hoàn liên tục nhắc về “thầy nó ngày xưa” khi gặp Phúc đã nói lên điều gì?
- Vận dụng kĩ năng phân tích chi tiết nghệ thuật trong truyện.
- Chú ý tần suất lặp lại của từ ngữ/hình ảnh, đặt chi tiết trong hoàn cảnh nhân vật và mạch diễn biến tâm lí.
- Từ chi tiết cụ thể, rút ra ý nghĩa tâm lí và giá trị biểu tượng.
Việc cô Hoàn liên tục nhắc về “thầy nó ngày xưa” khi gặp người cháu cho thấy:
- “Thầy nó ngày xưa” là kí ức cuối cùng và sâu đậm nhất còn in trong tâm trí cô trước khi đôi mắt hoàn toàn khép lại. Điều đó cho thấy cô luôn sống với những hồi ức về người em trai.
- Chi tiết thể hiện tình yêu thương, sự gắn bó và nỗi nhớ da diết của cô Hoàn đối với em trai.
- Đồng thời, nó cho thấy sự cô đơn và thiếu thốn tình cảm của cô: khi những người thân dần rời xa, quá khứ trở thành nơi cô tìm kiếm sự an ủi.
- Qua đó, Nam Cao làm nổi bật bi kịch của một con người cả đời hi sinh cho người thân nhưng cuối cùng lại bị chính những người mình yêu thương lãng quên.
=> Đây là chi tiết giàu sức ám ảnh, góp phần khắc họa đời sống nội tâm sâu sắc và bi kịch tinh thần của cô Hoàn.
Từ nội dung của đoạn trích, anh/chị hãy nêu suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống. (Trình bày trong khoảng 5 - 7 dòng)
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội ngắn.
- Xuất phát từ nội dung văn bản để rút ra bài học/ý nghĩa.
Gợi ý: Sự hi sinh thầm lặng có ý nghĩa lớn lao trong cuộc sống:
- Giúp nâng đỡ, chở che và tạo điều kiện để người khác có cơ hội trưởng thành, thành công và hạnh phúc.
- Là biểu hiện của những phẩm chất cao đẹp như tình yêu thương, lòng vị tha, trách nhiệm và sự bao dung.
- Những hi sinh âm thầm góp phần gắn kết con người, xây dựng gia đình và xã hội nhân văn, tử tế hơn.
- Tuy nhiên, mỗi người cũng cần biết trân trọng, ghi nhận và đáp lại những hi sinh của người khác, bởi sự vô tâm có thể khiến những người yêu thương mình phải chịu tổn thương và cô đơn.
Chỉ ra lỗi sai logic trong các câu sau và nêu cách sửa:
a) Nếu cô ấy không học lái xe, vì vậy cô ấy không thể lái được ô tô.
b) Mọi trẻ em đều phải được hưởng quyền tự do, quyền được bảo vệ và có trách nhiệm trong học tập.
- Vận dụng kiến thức về lỗi logic trong câu.
- Xem xét quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu và sự tương đồng về phạm trù ngữ nghĩa của các thành phần liệt kê.
Lỗi sai logic và cách sửa:
a) - Câu sai logic do dùng sai từ ngữ liên kết: (nếu… vì vậy…)
- Sửa: Nếu cô ấy không học lái xe thì cô ấy không thể lái được ô tô.
b) - Câu sai logic do chứa các thành phần đẳng lập không cùng phạm trù ngữ nghĩa (“quyền tự do”, “quyền được bảo vệ” không cùng phạm trù ngữ nghĩa với “có trách nhiệm trong học tập”).
- Sửa: Mọi trẻ em đều phải được hưởng quyền tự do, quyền được bảo vệ và quyền được học tập.
II. VIẾT
Diễn giả truyền cảm hứng nổi tiếng Nick Vujicic đã từng nói: Đừng tin vào đường chỉ tay sẽ nói trước tương lai của bạn. Bởi vì những người không có tay vẫn có tương lai.
Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề người trẻ cần tự nắm giữ số phận của chính mình.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: người trẻ cần chủ động làm chủ cuộc đời, không phó mặc tương lai cho số phận.
- Vận dụng thao tác lập luận phù hợp
- Bài viết khoảng 600 chữ, có luận điểm rõ, dẫn chứng tiêu biểu, lập luận chặt chẽ.
1. Mở bài: Dẫn từ câu nói của Nick Vujicic để giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài:
a. Giải thích:
+ Câu nói của Nick Vujicic: “Đừng tin vào đường chỉ tay sẽ nói trước tương lai của bạn. Bởi vì những người không có tay vẫn có tương lai” ngụ ý khuyên con người “đừng tin vào đường chỉ tay” tức đừng có tư tưởng cho rằng cuộc đời do số phận sắp đặt, an bài sẵn, những người “không có tay vẫn có tương lai” là bởi họ biết vươn lên, biết tự nắm giữ số phận.
+ Tự nắm giữ số phận là tinh thần sống tự chủ, luôn chủ động lựa chọn hướng đi cho bản thân, không phó mặc cho hoàn cảnh, số mệnh hay sự sắp đặt của người khác; luôn trau dồi, rèn luyện, vượt khó, quyết định tương lai bằng nỗ lực cá nhân.
b. Bàn luận:
- Thứ nhất, tự nắm giữ số phận giúp người trẻ làm chủ cuộc đời.
+ Người trẻ có mục tiêu sẽ biết mình cần học gì, rèn luyện gì và sống vì điều gì.
+ Không dễ bị đám đông hay những định kiến bên ngoài chi phối.
- Thứ hai, tinh thần chủ động giúp con người vượt qua nghịch cảnh.
+ Hoàn cảnh có thể tạo ra điểm xuất phát khác nhau nhưng thái độ và hành động trước hoàn cảnh có thể tạo nên những kết quả khác nhau.
+ Người biết đứng dậy sau thất bại sẽ biến khó khăn thành cơ hội trưởng thành.
- Thứ ba, tự quyết định tương lai giúp người trẻ phát huy giá trị bản thân.
+ Khi dám lựa chọn, dám chịu trách nhiệm, con người sẽ trưởng thành về bản lĩnh.
+ Thành quả do chính mình nỗ lực tạo dựng cũng giúp mỗi người hiểu rõ hơn năng lực và giá trị của bản thân.
- Thứ tư, tự nắm giữ số phận không có nghĩa là phủ nhận hoàn cảnh.
+ Con người vẫn chịu ảnh hưởng của gia đình, điều kiện kinh tế, xã hội, sức khỏe và những yếu tố khách quan.
+ Vì vậy, cần biết chấp nhận những điều không thể thay đổi nhưng chủ động thay đổi những gì mình có thể.
+ Đồng thời, không nên biến tinh thần “tự quyết định số phận” thành thái độ cực đoan, cho rằng mọi thất bại đều chỉ do cá nhân thiếu cố gắng.
HS lựa chọn và sử dụng dẫn chứng phù hợp
c. Bài học và giải pháp
- Người trẻ cần:
+ Xác định mục tiêu và giá trị sống phù hợp.
+ Không ngừng học tập, rèn luyện tri thức và kĩ năng.
+ Chủ động trải nghiệm, dám thử sức và chấp nhận thất bại.
+ Biết lắng nghe lời khuyên nhưng tự chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
+ Không mê tín, không đổ lỗi cho số phận; đồng thời biết tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết.
3. Kết bài: Khẳng định vấn đề nghị luận.





