Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 12 - Đề số 7
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích:
… Vàng bạc uy quyền không làm ra chân lí
Óc nghĩ suy không thể mượn vay
Bạch Đằng xưa, Cửu Long nay
Tắm gội lòng ta chẳng bao giờ cạn.
Ta tin ở sức mình, vô hạn
Như ta tin ở tuổi 25
Của chúng ta là tuần trăng rằm
Dám khám phá, bay cao, tự tay mình bẻ lái.
Ta tin ở loài người thúc nhanh thời đại
Những sông Thương bên đục, bên trong
Chảy về xuôi, càng đẹp xanh dòng
Lịch sử vẫn một sông Hồng vĩ đại...
(Trích Tuổi 25 của Tố Hữu, sách Tố Hữu Từ ấy và Việt Bắc, NXB văn học, tr332)
Xác định thể thơ của đoạn thơ trên?
- Vận dụng kiến thức về đặc điểm hình thức của các thể thơ.
- Quan sát số tiếng trong từng dòng, cách gieo vần, nhịp điệu và sự linh hoạt trong cấu trúc câu thơ.
Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do.
Chỉ ra các biện pháp tu từ được thể hiện trong những dòng thơ sau:
Ta tin ở sức mình, vô hạn
Như ta tin ở tuổi 25
Của chúng ta là tuần trăng rằm
Dám khám phá, bay cao, tự tay mình bẻ lái.
- Vận dụng kiến thức nhận diện biện pháp tu từ.
- Gọi tên và chỉ ra biểu hiện của các biện pháp tu từ có trong đoạn thơ
- Biện pháp tu từ:
+ So sánh: “Như ta tin ở tuổi 25; tuổi 25 Của chúng ta là tuần trăng rằm”.
+ Điệp ngữ: “Ta tin”
+ Liệt kê: “Dám khám phá, bay cao, tự tay mình bẻ lái”
Anh/chị cảm nhận gì về hai câu thơ sau:
Bạch Đằng xưa, Cửu Long nay
Tắm gội lòng ta chẳng bao giờ cạn.
- Vận dụng kĩ năng phân tích hình ảnh thơ và biện pháp tu từ.
- Đặt hình ảnh trong mạch cảm xúc chung của đoạn thơ để làm rõ ý nghĩa nội dung và tư tưởng.
- “Bạch Đằng xưa, Cửu Long nay” gợi những chiến công oanh liệt trong lịch sử dân tộc, biểu tượng cho truyền thống chống ngoại xâm và sức mạnh quật cường của cha ông.
- Cửu Long gợi miền đất Nam Bộ và cuộc sống, lịch sử dân tộc trong hiện tại.
- Phép đối “xưa – nay” tạo sự liên kết giữa truyền thống lịch sử và hiện tại, cho thấy dòng chảy liên tục của sức mạnh dân tộc.
- Hình ảnh “tắm gội lòng ta” là cách nói giàu tính ẩn dụ: truyền thống lịch sử, những chiến công của cha ông như nguồn nước trong lành nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hồn, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.
- “Chẳng bao giờ cạn” khẳng định sức sống bền vững, vô tận của truyền thống ấy.
=> Hai câu thơ thể hiện niềm tự hào sâu sắc về truyền thống lịch sử, đồng thời cho thấy truyền thống dân tộc luôn là nguồn sức mạnh tinh thần, tiếp thêm niềm tin và ý chí cho các thế hệ hôm nay.
Từ suy ngẫm của tác giả về tuổi 25 trong đoạn trích trên, anh/chị hãy rút ra bài học về lẽ sống cho bản thân.
- Vận dụng kĩ năng rút ra thông điệp/bài học từ văn bản.
- Bài học cần xuất phát từ nội dung đoạn thơ, đồng thời có sự liên hệ với bản thân.
Gợi ý:
- Từ suy ngẫm của Tố Hữu về tuổi 25, có thể rút ra bài học về lẽ sống:
+ Tuổi trẻ là quãng đời đẹp đẽ, giàu sức sống, ước mơ và khát vọng; vì vậy cần trân trọng và sống có ý nghĩa.
+ Người trẻ cần có lí tưởng, niềm tin vào bản thân, không ngại khó khăn, thử thách.
+ Phải chủ động khám phá, học hỏi, dấn thân, dám theo đuổi những mục tiêu có ý nghĩa thay vì sống thụ động, an phận.
+ Sức trẻ chỉ thực sự có giá trị khi được biến thành hành động cụ thể, đóng góp cho cộng đồng và đất nước.
- Bài học: Mỗi người trẻ cần sống chủ động, có ước mơ và lí tưởng; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình, đồng thời biết sử dụng sức trẻ để tạo ra những giá trị tốt đẹp cho bản thân và xã hội.
II. VIẾT
Anh chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự thay đổi bản thân để có thành công trong cuộc sống.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ.
- Xác định đúng vấn đề: ý nghĩa của sự thay đổi bản thân để có thành công trong cuộc sống.
- Đảm bảo đoạn văn có sự liên kết, lập luận rõ ràng và có quan điểm cá nhân.
1. Mở đoạn
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của sự thay đổi bản thân.
2. Thân đoạn
a. Giải thích
- Thay đổi bản thân: không ngừng học hỏi, cải thiện để bản thân mình tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn từng ngày.
- Biểu hiện của thay đổi bản thân:
+ Không ngừng nỗ lực học tập, tích lũy, tiếp thu kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau.
+ Biết nhìn nhận vào những lỗi sai của mình, từ đó rút ra bài học và khắc phục.
+ Có ý thức vươn lên trong cuộc sống, sống có đam mê và cố gắng theo đuổi đam mê đó.
b. Ý nghĩa của việc thay đổi bản thân:
- Làm cho bản thân mình ngày càng tốt hơn, mở mang tầm hiểu biết.
- Khắc phục được những khuyết điểm của bản thân mình từ đó được mọi người tín nhiệm, tin tưởng.
- Người biết hoàn thiện bản thân sẽ tiến bộ từng ngày và nhận được tình yêu thương từ mọi người.
Học sinh tự lấy dẫn chứng minh họa cho bài làm văn của mình.
c. Phản biện
Trong xã hội vẫn còn có nhiều người sống an phận, nghe theo sự sắp đặt của người khác hoặc quá lười biếng, không có ý thức vươn lên để hoàn thiện bản thân mình,… những người này đáng bị xã hội thẳng thắn phê phán.
3. Kết đoạn
Khái quát lại vấn đề nghị luận: ý nghĩa của sự thay đổi bản thân; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.
Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài viết:
…“Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho.Trẻ em đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều quanh nương để sưởi lửa.Ở Hồng Ngài, người ta thành lệ cứ ăn Tết thì gặt hái vừa xong, không kể ngày, tháng nào. Ăn Tết như thế cho kịp mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới. Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội.
Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ. (…) Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi.Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi.
"Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu".
Tiếng chó sủa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới.
Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm sân chơi chung ngày tết. Trai gái, trẻ con ra sân ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy.
Cả nhà thống lý ăn xong bữa cơm tết cúng ma. Xung quanh chiêng đánh ầm ĩ, người ốp đồng vẫn nhảy lên xuống, run bần bật. Vừa hết bữa cơm tiếp ngay cuộc rượu bên bếp lửa.
Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mị.
Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mị không biết.Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà.Mãi sau Mị mới đứng dậy.Nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà Mị từ từ bước vào buồng.Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng.Đã từ nãy Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước.Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi…
(Trích Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD,2008, tr 6,7)
Anh chị hãy phân tích đoạn trích trên; từ đó, nhận xét ngắn gọn về chất thơ trong đoạn trích.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học.
- Kết hợp các thao tác phân tích, chứng minh, bình luận, nhận xét, đánh giá để làm rõ vẻ đẹp của đoạn trích và chất thơ trong ngòi bút Tô Hoài.
- Vận dụng kiến thức về tác giả Tô Hoài, tác phẩm Vợ chồng A Phủ; chú ý phân tích hình ảnh thiên nhiên, phong tục, diễn biến tâm trạng Mị và các đặc sắc nghệ thuật.
- Đảm bảo bố cục Mở bài – Thân bài – Kết bài.
1. Mở bài
Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận
2. Thân bài
*Giới thiệu khái quát về nhà văn Tô Hoài, tác phẩm Vợ chồng A Phủ và đoạn trích
- Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của nền văn học hiện đại Việt Nam, là nhà văn có biệt tài nắm bắt rất nhanh nhạy những nét riêng trong phong tục, tập quán của những miền đất mà ông đã đi qua. Ông có giọng văn kể chuyện hóm hỉnh, rất có duyên và đầy sức hấp dẫn; có vốn ngôn ngữ bình dân phong phú và sử dụng rất linh hoạt, đắc địa.
- Truyện “Vợ chồng A Phủ” được nhà văn Tô Hoài sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm gồm hai phần: phần đầu kể về cuộc sống tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, là nô lệ nhà thống lí Pá Tra; cuối phần một là cảnh Mị cứu và chạy theo A Phủ. Phần sau kể về Mị và A Phủ ở Phiềng Sa. Họ trở thành vợ chồng, được giác ngộ cách mạng.
* Phân tích đoạn văn:
+ Về nội dung:
- Bức tranh thiên nhiên miền núi Tây Bắc với cảnh mùa xuân về trên rẻo cao…
- Bức tranh sinh hoạt, phong tục miền núi, đặc biệt là cảnh ngày Tết của người Mèo…
- Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị: hành động uống rượu bất thường và tâm trạng đắm chìm trong quá khứ, sống với quá khứ; hành động âm thầm lặng lẽ và tâm trạng phấn chấn, phơi phới, vui sướng đột ngột…
+ Về nghệ thuật:
- Từ ngữ, hình ảnh gần gũi đặc trưng cho miền núi Tây Bắc với những nét sinh hoạt độc đáo; chi tiết đẹp và giàu sức sống…
- Đi sâu vào khai thác diễn biến tâm lí nhân vật Mị tự nhiên, chân thực, sâu sắc thể hiện nội tâm tinh tế, phức tạp….
* Nhận xét về chất thơ trong tác phẩm
+ Biểu hiện:
- Chất thơ trong sáng tác của Tô Hoài trước hết thể hiện qua vẻ đẹp của thiên nhiên; vẻ đẹp của phong tục với lễ hội mùa xuân tràn ngập màu sắc và âm thanh; vẻ đẹp tâm hồn nhân vật Mị, người con gái tưởng chừng như héo hắt, sống một cuộc đời lầm lũi nhưng vẫn le lói những đốm lửa của khát vọng tự do, của tình yêu cuộc sống.
- Chất thơ thể hiện trong ngôn ngữ nghệ thuật với âm thanh, hình ảnh, nhịp điệu gợi hình, gợi cảm và bút pháp trữ tình đậm chất Tây Bắc…
+ Nhận xét:
- Chất thơ trong đoạn trích cho thấy tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn…
- Thể hiện tình yêu thiên nhiên và tấm lòng của Tô Hoài với con người Tây Bắc, cảm hứng lãng mạn trong văn xuôi Việt Nam 1945 - 1975…
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị của đoạn trích: tái hiện thành công bức tranh mùa xuân và đời sống văn hóa Tây Bắc; khắc họa tinh tế sự hồi sinh trong tâm hồn Mị; thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.
- Khẳng định chất thơ là một nét đặc sắc trong ngòi bút Tô Hoài, góp phần làm nên sức hấp dẫn lâu bền của Vợ chồng A Phủ.





