Đề thi thử giữa học kì 1 Văn 12 - Đề số 2
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Gần một giờ đêm, trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên lên to quá, khúc đê làng X thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.
Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ hết sức giữ gìn, kẻ thuổng kẻ thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy ướt lướt thướt như chuột lột. Tình cảnh trông thật thảm.
Than ôi. Sức người khó lòng địch nổi sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất, ấy lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân yếu hèn mà chống với mưa to gió lớn, để bảo thủ lấy tính mạng, gia tài, thế thời quan cha mẹ ở đâu?
Thưa rằng: đang ở trong đình kia. Cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nào cũng không việc gì.
Trong đình đèn thắp sáng trưng, nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên, cầm cái quạt lông chốc chốc lại phe phẩy. Tên nữa đứng khoanh tay chực hầu điếu đóm. Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn, để trong khay khảm, khói bay nghi ngút, tráp đồi mồi chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đầy những trầu vàng... trông mà thích mắt.
Ngoài kia tuy mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít, nhưng trong này xem chừng tĩnh mịch, nghiêm trang lắm: trừ quan phụ mẫu mọi người không dám to tiếng. So với cảnh trăm họ đang lấm láp, gội gió tắm mưa như đàn sâu lũ kiến ở trên đê, thời ở trong đình rất là nhàn nhã, đường bệ, nguy nga: nào quan ngồi trên, nào nha ngồi dưới, người nhà lính lệ khoanh tay sắp hàng, nghi vệ tôn nghiêm, như thần như thánh. Thỉnh thoảng nghe tiếng quan phụ mẫu gọi: "Điếu mày", tiếng tên lính hầu thưa: "Dạ"; tiếng thầy đề hỏi: "Bẩm bốc", tiếng quan lớn truyền: "ừ". Kẻ này "Bát sách! ăn". Người kia "thất văn". "Phỗng", lúc mau, lúc khoan, ung dung êm ái; khi cười, khi nói, vui vẻ dịu dàng. Thật
là tôn kính, xứng đáng với một vị phúc tinh. [. ]
(Trích: Sống chết mặc bay - Phạm Duy Tốn tác phẩm chọn lọc, NXB Văn học, 2002)
Xác định ngôi kể của đoạn văn bản.
Vận dụng kiến thức về ngôi kể
Ngôi kể thứ 3
Theo văn bản, người dân làng X thuộc phủ X đang ở trong tình thế nào?
Đọc kĩ văn bản để chỉ ra chi tiết phù hợp
Theo văn bản, người dân làng X thuộc phủ X đang ở trong tình thế: Nước sông Nhị Hà lên lên to quá, khúc đê hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, sắp sửa bị vỡ.
Chỉ ra và nêu tác dụng của phép tu từ nói mỉa trong đoạn văn sau: “Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chẽm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ dưới đất mà gãi”.
Vận dụng kiến thức về biện phép tu từ nói mỉa
Tác giả dùng những từ ngữ tôn xưng và trang trọng như: “quan phụ mẫu”, “uy nghi”, “chễm chệ ngồi” => đó là những từ dùng để châm biếm thói trưởng giả, quan liêu, tàn ác của quan phụ mẫu.
Trong hoàn cảnh người dân đang gắng sức chống chọi với mưa to gió lớn, hình ảnh: “Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi” cho thấy thái độ của tác giả đối với nhân vật quan phụ mẫu như thế nào?
Phân tích thái độ của tác giả
-Lên án và phê phán gay gắt thái độ vô trách nhiệm, vô nhân đạo của viên quan: chỉ biết hưởng thụ, bỏ mặc dân đang khổ nạn.
- Thể hiện niềm cảm thông sâu sắc với nỗi khốn khổ của người dân trong tình thế ngặt nghèo.
Thông điệp có ý nghĩa nhất Anh/Chị rút ra được từ văn bản trên?
Liên hệ bản thân để rút ra thông điệp phù hợp
- Phơi bày bộ mặt thật tham lam, tàn nhẫn, thờ ơ của giai cấp thống trị trước nỗi khổ của nhân dân.
- Thức tỉnh ý thức trách nhiệm và lòng nhân ái của con người
Tác phẩm gửi gắm lời nhắc nhở:
→ Người cầm quyền phải biết lo cho dân, vì dân.
→ Mỗi con người phải có trách nhiệm, tình thương và lương tâm trước nỗi khổ của đồng loại.
II. VIẾT
Viết bài văn nghị luận (600 chữ) so sánh, đánh giá một nét tương đồng, một nét khác biệt của đoạn trích : “Sống chết mặc bay” với đoạn truyện ngắn sau đây:
Bí ẩn của làn nước (Bảo Ninh)
...Nước đã ngập làng. Tôi vê, kịp dìu vợ leo lên mái. Mái nhà tranh của vọ chồng tôi bị lôi đi trong đêm đen. Đến khi mái ra sắp rã tan ra thì ơn trời nó vướng vào thân đa trước đình làng. Đã cả một đám đông bám trên các cành. Nhiều bàn tay chìa xuống giúp tôi đỡ vợ con trèo lên. Vợ tôi ôm khư khư đửa con mới sinh, nhất định không để tôi bế đỡ.
- Con trai... con trai mà... con trai... Để yên em ẵm, anh vụng...
Nhiều giờ trôi qua. Mưa tuôn, gió thổi. Mực nước không dâng cao hơn, nhưng chảy xiết hơn. Cây đa đầy người hơn. Tôi mỏi nhừ. Tay ôm chặt vợ, tay níu mình vào chạc cây. Vợ tôi yếu lả, ướt lướt thướt, lạnh ngắt.
Khoảng gần sáng, bỗng có tiếng quẫy nước ngay dưới cành đa của vợ chồng tôi. Một giọng nghẹn sặc với lên: Cứu mẹ con tôi mấy... cứu mấy, người ơi...
Một bàn tay nhớt và lạnh như tay ma rờ vào chân tôi đang buông thống. Tôi vội cúi xuống, đưa tay ra. Nhưng bàn tay của người đàn bà dưới nước truội đi, chìm nghỉm. Cành đa kêu rắc, chao mạnh. Vợ tôi ối kêu một tiếng thảng thốt, và "ùm", con trai tôi, đứa con sơ sinh tôi chưa được nhìn thấy mặt, tuột khỏi bọc ni lông trên tay mẹ nó, sa xuống làn nước tối tăm.
Tôi phóng mình theo. Nước lạnh, ngầu bùn, sâu hút và cuốn mạnh. Tôi vớ kịp thằng con, nhao vội lên, trao nó cho những bàn tay đang chìa xuống, rồi lại lặn tiếp ngay để cứu vợ. Nhiều người phi xuống theo để trợ sức tôi... Tôi tỉnh lại, thấy trời sáng rồi và đã tạnh mưa. Tôi nằm trong khoang một ca nô cứu nạn đầy ắp người. Hồi đêm, tôi đã vật lộn điên dại quyết sống mái một phen với làn nước giết người, nhưng tôi đã thua cuộc. Ưa ra cả máu tai máu mũi mà không những không cứu nổi vợ, đến thi thể cô ấy tôi cũng không tìm thấy. Khi ca nô quân đội tới, mọi người đã phải dùng sức để buộc tôi rời mặt nước. Kiệt sức, tôi ngất đi. Khổ đau, tôi tỉnh dậy, nước mắt nóng rực, tê nhói. Một chị phụ nữ chen tới bên tôi, lên lời an ủi:
Chị nựng nịu, và từ từ giở bọc chăn chiên đang ủ kín con tôi. Chị thay tã cho nó. Tôi nhìn, chết lặng.
Thời gian trôi qua và triển nước trôi đi, tôi đã có tuổi và con gái tôi đã thành một thiếu nữ. Nó là đứa con của làn nước, điều bí mật ấy, không ai hay, kể cả con gái tôi cũng không thể biết. Chỉ có dòng sông biết.
(Bảo Ninh, Những truyện ngắn, NXB Trẻ, 2021)
* Tác giả Phạm Duy Tốn sinh (1883 – 1924) tại Hà Nội.
- Phạm Duy Tốn là một nhà văn tiên phong của văn học mới Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20.Tác phẩm chính: - Sống chết mặc bay, Bực mình hay Câu chuyện thương tâm, Tiếu lâm An Nam
+ Mở bài
- Giới thiệu 2 tác phẩm và tác giả cần so sánh; vấn đề (điểm chung giữa 2 tác phẩm đề yêu cầu so sánh).
- Nêu bình diện cần so sánh và vị trí của chúng đối với tác phẩm dư luận.
+ Thân bài
* Điểm chung ở 2 tác phẩm:
- Thể loại: truyện ngắn.
- Bồi cảnh, tình huống gay cấn, nguy hiểm bởi thiên tai, lũ lụt.
→ 2 tác giả chọn thể loại truyện ngắn và bối cảnh lũ lụt để phản ánh cuộc sống và bản chất con người.
* Điểm khác biệt ở 2 tác phẩm:
- Sống chết mặc bay - Phạm Duy Tốn: tố cáo sự vô nhân đạo, bất nhân của bọn quan lại, mang đậm giá trị hiện thực, nhân đạo cao cá về tình người.
- Bí ẩn của làn nước - Bảo Ninh: Trong những tình huống nguy nan, ranh giới sống chết chỉ như sợi tóc, con người vẫn có thể sống yêu thương, đùm bọc, sẻ chia, thậm chí hy sinh cả sinh mạng cho người khác, cao thượng, nhân hậu.
* Lý giải sự khác biệt: căn cứ vào hoàn cảnh ra đời của 2 tác phẩm, góc nhìn và sự sáng tạo của mỗi nhà văn.
+ Kết bài
- Đánh giá của cá nhân về ý nghĩa của từng tác phẩm
- Đánh giá sự đóng góp, thành công của từng nhà văn đối với nền văn học.
Trong văn học Việt Nam, hình ảnh thiên tai, đặc biệt là lũ lụt, thường được các nhà văn lựa chọn như một bối cảnh thử thách khắc nghiệt để bộc lộ bản chất con người và bộ mặt xã hội. Truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn và đoạn trích Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh tuy ra đời ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng đều gặp nhau ở cảm hứng hiện thực sâu sắc. So sánh hai đoạn trích cho thấy giữa chúng tồn tại những điểm tương đồng về bối cảnh và thể loại, đồng thời có sự khác biệt rõ nét trong tư tưởng và giá trị nhân văn được thể hiện.
Trước hết, điểm chung dễ nhận thấy ở hai tác phẩm là đều thuộc thể loại truyện ngắn và cùng đặt nhân vật trong bối cảnh lũ lụt đầy hiểm nguy. Trong Sống chết mặc bay, Phạm Duy Tốn dựng lên cảnh nước sông dâng cao, đê điều sắp vỡ, người dân hoảng loạn trong nỗi lo mất nhà cửa và tính mạng. Không khí truyện căng thẳng, dồn dập, tạo cảm giác ngột ngạt, bức bối. Tương tự, trong Bí ẩn của làn nước, Bảo Ninh tái hiện một đêm lũ dữ với nước chảy xiết, gió mưa dữ dội, con người phải bám víu vào từng cành cây để giành giật sự sống. Việc lựa chọn truyện ngắn với tình huống cao trào và bối cảnh thiên tai giúp hai tác giả tập trung khắc họa những khoảnh khắc quyết định, từ đó làm nổi bật đời sống tinh thần và cách ứng xử của con người trước thử thách sinh tử.
Tuy cùng xuất phát từ bối cảnh lũ lụt, hai tác phẩm lại có những khác biệt rõ rệt về tư tưởng và thông điệp. Trong Sống chết mặc bay, Phạm Duy Tốn tập trung tố cáo sự vô nhân đạo và tàn nhẫn của tầng lớp quan lại phong kiến. Khi người dân đang vật lộn với dòng nước dữ, viên quan phủ vẫn thản nhiên ngồi chơi bài, phó mặc sinh mạng của hàng nghìn người. Sự đối lập gay gắt giữa cảnh dân chúng lầm than và thái độ lạnh lùng của kẻ cầm quyền đã làm nổi bật giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm, đồng thời thể hiện tinh thần nhân đạo qua sự cảm thông, xót xa dành cho người dân thấp cổ bé họng.
Ngược lại, Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh không đặt trọng tâm vào việc phê phán một thế lực xã hội cụ thể mà hướng đến khám phá vẻ đẹp của tình người trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Giữa cơn lũ dữ, con người vẫn sẵn sàng cứu giúp nhau, nhiều bàn tay chìa ra trong tuyệt vọng, người chồng không ngần ngại lao mình vào dòng nước lạnh để cứu con và cứu vợ. Dù kết cục là mất mát và đau thương, tác phẩm vẫn làm nổi bật sự cao thượng, nhân hậu và tinh thần hy sinh của con người trước thiên tai tàn khốc.
Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ hoàn cảnh ra đời và góc nhìn nghệ thuật của mỗi nhà văn. Phạm Duy Tốn sáng tác trong bối cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến, khi mâu thuẫn giai cấp gay gắt và bộ máy quan lại bộc lộ rõ sự thối nát. Vì thế, ngòi bút của ông mang tính phê phán mạnh mẽ. Trong khi đó, Bảo Ninh là nhà văn trưởng thành sau chiến tranh, quan tâm nhiều hơn đến thân phận con người và những chiều sâu tâm lý, nên tác phẩm thấm đẫm suy tư nhân bản.
Có thể khẳng định rằng, mỗi tác phẩm đều mang một ý nghĩa riêng. Sống chết mặc bay là tiếng nói lên án xã hội bất công và thức tỉnh lương tri con người, còn Bí ẩn của làn nước là bản ghi chép đầy ám ảnh về sức mạnh của tình người. Cả Phạm Duy Tốn và Bảo Ninh đều đã đóng góp những tác phẩm có giá trị, làm giàu thêm cho nền văn học Việt Nam bằng những trang viết giàu hiện thực và nhân văn sâu sắc.
Từ câu chuyện: Sống chết mặc bay - Phạm Duy Tốn, có thể thấy thiên tai, lũ lụt luôn là nỗi lo sợ của người dân trong mùa mưa bão. Những ngày đầu tháng 10 vừa qua nhân dân miền Bắc đã phải oằn mình gánh chịu những tổn thất do hai trận bão số 10 và số 11 gây ra, với tinh thần “Tương thân tương ái” cả nước đã chung tay hướng về miền Bắc.
Anh/Chị hãy viết một đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) với chủ đề: Tình người trong bão lũ.
- Giải thích vấn đề: Tình người trong bão lũ là sự sẻ chia, cứu giúp, nâng đỡ lẫn nhau giữa
con người khi thiên tai xảy ra.
- Biểu hiện của tình người trong bão lũ:
+ Những người dân, chiến sĩ, tình nguyện viên xông pha vùng nguy hiểm để cứu giúp, đưa người đến nơi an toàn.
+ Các hoạt động quyên góp, ủng hộ, gửi lương thực, thuốc men từ khắp nơi trong cả nước.
+ Sự động viên tinh thần, an ủi, chia sẻ mất mát.
+ Cả cộng đồng chung tay dựng lại nhà cửa, khôi phục cuộc sống sau bão.
→ Tất cả cho thấy: Khi thiên tai đến, con người không cô đơn – vì có tình thương nâng đỡ.
- Ý nghĩa của tình người trong bão lũ
+ Với cá nhân: giúp con người vượt qua nỗi đau, khổ nạn; củng cố niềm tin vào cuộc sống.
+ Với cộng đồng: gắn kết mọi người bằng lòng nhân ái, tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc.
+ Với xã hội: khơi dậy truyền thống “lá lành đùm lá rách”, thể hiện đạo lý tốt đẹp của con người Việt Nam.
- Phản đề (phê phán): Phê phán những người vô cảm, lợi dụng thiên tai để trục lợi, hoặc thờ ơ
trước nỗi đau của đồng bào.
- Khẳng định ý nghĩa: Tình người trong bão lũ là vẻ đẹp cao quý, thể hiện truyền thống nhân ái và tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Từ câu chuyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn, có thể thấy thiên tai, lũ lụt từ lâu đã là nỗi ám ảnh thường trực của người dân. Trong những ngày bão lũ hoành hành, tình người trong bão lũ chính là sự sẻ chia, cứu giúp và nâng đỡ lẫn nhau giữa con người khi thiên tai xảy ra. Đó là hình ảnh những người dân, chiến sĩ, lực lượng cứu hộ và các tình nguyện viên không quản hiểm nguy, xông pha vào vùng ngập sâu để đưa người già, trẻ nhỏ đến nơi an toàn. Đó còn là những chuyến xe chở đầy lương thực, thuốc men, quần áo được gửi về từ khắp mọi miền đất nước, cùng những lời thăm hỏi, động viên kịp thời dành cho người gặp nạn. Khi nước rút, tình người tiếp tục được thể hiện qua việc cả cộng đồng chung tay dựng lại nhà cửa, khôi phục cuộc sống sau bão. Những hành động ấy cho thấy trong hoạn nạn, con người không hề cô đơn vì luôn có tình thương nâng đỡ. Tình người trong bão lũ giúp mỗi cá nhân có thêm nghị lực vượt qua đau thương, củng cố niềm tin vào cuộc sống, đồng thời gắn kết cộng đồng bằng sức mạnh đoàn kết và lòng nhân ái. Tuy nhiên, cần phê phán những kẻ vô cảm, thờ ơ hoặc lợi dụng thiên tai để trục lợi. Có thể khẳng định rằng, tình người trong bão lũ là vẻ đẹp cao quý, thể hiện truyền thống nhân ái và tinh thần đoàn kết bền chặt của dân tộc Việt Nam.





