Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 12 - Đề số 13
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
Khi tôi lớn lên, chèo sân đình đã vắng bóng. Các đoàn chèo từ Trung ương đến hàng xã đều diễn chèo trên sân khấu ba mặt (vốn là sản phẩm của kịch phương Tây) và những kịch bản chèo cổ đã được chỉnh lí, biên soạn lại khá công phu dưới ngòi bút của những nhà viết chèo tầm cỡ như Trần Huyền Trân, Lưu Quang Thuận, Bùi Đức Hạnh,... nhưng vẫn còn lưu dấu trong những buổi đội chèo làng luyện tập,... Cơm tối xong, tiếng trống vừa nổi lên cùng với điệu “vỡ nước” náo nức, là chúng tôi ùa ra sân hợp tác. Già trẻ, gái trai đã vây kín thành vòng tròn quanh các diễn viên (toàn là người làng cả).
Hồi ấy chưa có điện, ánh sáng của những buổi tập ấy chủ yếu là ánh trăng hay đèn “hoa kì” (đèn “măng sông” chỉ hôm diễn chính mới được thắp). Ông chủ nhiệm hợp tác xã chĩnh chện trên chiếc ghế đẩu, chân kẹp trống, tay lăm lăm dùi. Ông ngồi cầm chầu, trực tiếp chấm... cộng điểm cho các diễn viên – xã viên của mình. Diễn viên lúc ấy có người mới tất tả chạy ra, mặt còn đỏ lựng vì đun mải cho xong nồi cám lợn. Diễn viên tập, còn “đạo diễn”? Ngoài ông đội trường vốn là một trùm hát ngày trước, còn là... toàn thể người xem. [...]
Người hát chèo hay nhất ở quê tôi hồi ấy là chị Thuyên (bây giờ, dẫu đã teo tóp ở tuổi 55 do gánh gia đình quá nặng, chị hát vẫn rất nền[1]. Chị chuyên đóng vai nữ lệch[2]. Hôm nào đi tập chị cũng đi muộn nhất. Có lần ra đến sân kho, quần còn vo quá gối. [...]
Chị Thuyên nghèo lắm. Năm ngoài hai mươi, chị đã ba con. Vợ chồng tất bật, lam lũ. Những lúc vất vả quá, chị hay thở dài, bảo tôi:
– Em này, ước gì mà cuộc đời nó cũng như là... chiếu chèo ấy nhỉ?
Tôi chỉ biết ngẩn ngơ. Vâng! Ước gì... Bao nhiêu là nhân tình thế thái. Bao nhiêu là số phận đã diễn ra trên những chiếu chèo quê tôi... Ở đó, người nghèo khổ được gặp Tiên, gặp Phật. Cô gái mò cua trở thành hoàng hậu, còn chàng trai nghèo dắt mẹ đi ăn mày thì đỗ trạng nguyên. Ở đó ân oán phân minh, nghĩa tình trọn vẹn... [...]
Vùng tôi là quê hương của những “chiếng” [3]chèo Nam. Thời trước, mỗi tỉnh có một hay nhiều “chiếng” chèo riêng: “Chiếng” chèo Đông của Hải Dương, “chiếng” chèo Đoài của Sơn Tây, “chiếng” chèo Bắc của Bắc Ninh. Mỗi “chiếng” có sở trường riêng, có những “ngón nghề” riêng, người sành chèo chỉ cần nhìn qua lối diễn là có thể gọi ngay ra được tên “chiếng”. Diễn viên bình thường chỉ diễn được trong “chiếng” của mình. Những người nhập vào “chiếng” nào cũng diễn được, lại diễn hay, được gọi là “nghệ nhân Tứ “Chiếng””. Số nghệ nhân đó thật hiếm hoi. Ở những “chiếng” chèo Nam, cho đến giờ, người ta vẫn kể chuyện về cô đào Đào Sương Nguyệt. Cô nhập vào “chiếng” nào là “chiếng” đó khởi sắc hẳn lên. Đào Nguyệt nổi danh với những vai “nữ chính” Thị Kính, Thị Phương,... và còn nổi danh với cả vai... Trương Phi trong tuồng Bắc. [...]
Nhưng rồi về sau, chẳng ai biết kết cục của cô đào tài danh ấy ra sao? Vốn là người mê chèo, từ ngày trở thành một nhà báo chuyên nghiệp, tôi đã cố công đi tìm tung tích cô, nhưng tôi đã hoài công... Tên của cô chỉ còn lưu lại trong kí ức của những nghệ nhân dân gian lớp trước...
Chèo, đó chính là đặc trưng cho tính cách tâm hồn của người quê tôi. Những làn điệu, những vai chèo bất chấp mọi biển thiên, thăng trầm của xã hội, vẫn cứ màu mỡ, cứ xanh tươi như đồng đất Thái Bình.
(Vũ Hữu Sự, Một thoáng chèo quê tôi, in trong tập phóng sự Muôn mặt đời thường (Nhiều tác giả), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001, tr. 109 – 116)
[1] Nền: chi tiếng đệm được xử lí tinh tế, tạo mặt bằng giai điệu nhằm tôn lên lời chính của hát chèo.
[2] Nữ lệch (hay đào lệch): chỉ nhân vật nữ táo bạo, dám phá bỏ mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến đi tìm tự do yêu đương.
[3] Chiếng: chỉ những phường chèo hoạt động trong một vùng văn hóa nhất định.
Văn bản trên viết về đề tài gì?
Căn cứ vào nhan đề, các chi tiết, sự việc và nội dung chính của văn bản để xác định đề tài.
Văn bản viết về nghệ thuật chèo truyền thống và đời sống văn hóa của người dân quê hương Thái Bình.
Văn bản có sự kết hợp của những phương thức biểu đạt chủ yếu nào?
Căn cứ vào đặc điểm của các phương thức biểu đạt và cách tác giả tái hiện sự việc, con người, cảnh vật, cảm xúc trong văn bản.
Văn bản có sự kết hợp của ba phương thức biểu đạt chủ yếu: tự sự, miêu tả và biểu cảm.
- Tự sự: Kể lại những kỉ niệm về các buổi tập chèo ở quê, câu chuyện về chị Thuyên và nghệ nhân Đào Sương Nguyệt.
- Miêu tả: Khắc họa khung cảnh những buổi tập chèo, hình ảnh ông chủ nhiệm hợp tác xã và người diễn viên chèo.
- Biểu cảm: Thể hiện tình yêu, niềm tự hào, sự trân trọng và nỗi bâng khuâng, tiếc nuối của tác giả trước những biến đổi của nghệ thuật chèo truyền thống.
Chỉ ra và nêu tác dụng của những câu văn miêu tả trong văn bản.
- Xác định các câu văn tái hiện đặc điểm, hình dáng, hành động, trạng thái của con người và cảnh vật; phân tích tác dụng về nội dung và nghệ thuật.
- Một số câu văn miêu tả trong văn bản:
+“Già trẻ, gái trai đã vây kín thành vòng tròn quanh các diễn viên (toàn là người làng cả).”
+ “Ông chủ nhiệm hợp tác xã chĩnh chện trên chiếc ghế đẩu, chân kẹp trống, tay lăm lăm dùi.”
+ “Diễn viên lúc ấy có người mới tất tả chạy ra, mặt còn đỏ lựng vì đun mải cho xong nồi cám lợn.”
+ “Các diễn viên lúc ấy có người mới tất tả chạy ra” là chi tiết gợi lên nhịp sống lao động tất bật của người dân trước khi tham gia sinh hoạt văn nghệ.
- Tác dụng:
+ Tái hiện cụ thể, sinh động khung cảnh những buổi tập chèo ở làng quê xưa, từ không khí đông vui, náo nức đến hình ảnh những người dân vừa lao động vừa say mê nghệ thuật.
+ Làm cho lời kể trở nên chân thực, giàu hình ảnh, giúp người đọc dễ dàng hình dung khung cảnh và con người được nhắc đến.
+ Thể hiện sự gắn bó, yêu mến của tác giả đối với những buổi diễn chèo dân dã và đời sống văn hóa truyền thống của quê hương.
Phân tích tác dụng của yếu tố phi hư cấu trong văn bản trên.
Vận dụng kiến thức về đặc trưng của thể kí, xác định các yếu tố có tính xác thực như con người, địa danh, sự việc, không gian và những trải nghiệm thực tế; phân tích tác dụng của chúng.
- Các yếu tố phi hư cấu trong văn bản:
+ Con người có thật hoặc được tác giả ghi nhận từ thực tế: Những người dân tham gia tập chèo, chị Thuyên, nghệ nhân Đào Sương Nguyệt và các nhà viết chèo như Trần Huyền Trân, Lưu Quang Thuận, Bùi Đức Hạnh.
+ Địa danh và không gian có thật: Thái Bình, các làng quê, sân hợp tác xã, những chiếng chèo Đông, Đoài, Bắc, Nam.
+ Sự việc và trải nghiệm thực tế: Những buổi tập chèo của người dân, việc tổ chức diễn chèo, câu chuyện về người nghệ nhân tài danh và hành trình tìm kiếm tung tích của nghệ nhân ấy.
- Tác dụng:
+ Cung cấp những thông tin, tư liệu cụ thể, giúp câu chuyện có cơ sở thực tế và tăng sức thuyết phục cho văn bản.
+ Tái hiện chân thực đời sống sinh hoạt văn hóa của người dân quê hương Thái Bình, cho thấy nghệ thuật chèo từng gắn bó mật thiết với cộng đồng làng xã.
+ Thể hiện tình yêu quê hương, niềm tự hào và ý thức trân trọng, gìn giữ di sản văn hóa dân tộc của tác giả.
II. VIẾT
Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích đặc điểm của thể loại hồi kí được thể hiện trong đoạn trích sau đây:
...Ngày 26 tháng 8, chi đội Giải phóng quân đầu tiên tiến vào Thủ đô, giữa tiếng reo mừng dậy đất của đồng bào. Các nam, nữ chiến sĩ lần đầu mặc quần áo đồng phục chân bước chưa đều, nước da phần lớn tái xạm, nhưng tràn đầy khí thế chiến thắng của một đoàn quân dày dạn trong chiến đấu, mang đến cho đồng bào niềm tin, đã có một chỗ dựa vững chắc bên cạnh đội ngũ vũ trang của hàng ngàn chiến sĩ tự vệ của Thủ đô.
Bác từ Tân Trào về Hà Nội. Chúng tôi ra đón Bác tại làng Phú Thượng. Bác còn yếu sau trận sốt nặng vừa qua, vẫn giản dị với bộ quần áo vải vàng cũ và đôi giày vải. Đến 30 tháng 8, trên cả nước, chính quyền đã về tay nhân dân, trừ một đôi nơi bọn phản động Quốc dân đảng gây khó khăn như ở Vĩnh Yên.
Ngày mồng 2 tháng 9, Bác ra mắt trước mấy chục vạn đồng bào Thủ đô tại Quảng trường Ba Đình với bản “Tuyên ngôn Độc lập” lịch sử. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Cờ cách mạng nền đỏ sao vàng trở thành cờ của Tổ quốc. Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam độc lập. Đội quân Giải phóng Việt Nam, sau ngày cách mạng thành công đã xuất hiện trên khắp các miền của đất nước. Bên cạnh những chiến sĩ Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Du kích Ba-tơ và hàng vạn chiến sĩ tự vệ, du kích của phong trào cách mạng tại khắp các chiến khu, đã có thêm hàng trăm ngàn thanh niên tình nguyện đứng dưới cờ làm người chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc.
(Võ Nguyên Giáp, Từ nhân dân mà ra, in trong Hồi kí cách mạng, NXB Giáo dục, 1970, tr. 198 – 199)
Căn cứ lý thuyết về kí, cách làm bài nghị luận văn học và nội dung đoạn trích.
Gợi ý:
- Đoạn trích kể lại sự kiện lịch sử trọng đại của toàn thể dân tộc Việt Nam: Ngày 2-9-1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,...
- Tính xác thực của thể loại hồi kí được thể hiện ở sự kiện, nhân vật, thời gian, địa điểm,.. (ngày 26 tháng 8, chi đội Giải phóng quân đầu tiên tiến vào Thủ đô; Bác Hồ từ Tân Trào về Hà Nội; làng Phú Thượng; 30 tháng 8; ngày 2 tháng 9, Bác ra mắt trước mấy chục vạn đồng bào Thủ đô tại Quảng trường Ba Đình với bản Tuyên ngôn Độc lập;...)
- Thủ pháp trần thuật kết hợp với miêu tả, nhiều câu văn dài được ngắt thành nhiều nhịp, nhịp dồn dập,... khiến sự kiện trong hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tái hiện chân thực và ấn tượng; thể hiện hào khí chiến thắng và niềm tự hào của toàn thể dân tộc Việt Nam trong thời khắc lịch sử quan trọng.
Từ nội dung phần Đọc - hiểu kết hợp với những hiểu biết xã hội, anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày ý kiến của mình về vấn đề: Cách ứng xử trước những thói hư tật xấu của người trẻ trong cuộc sống hiện nay.
Vận dụng kỹ năng viết bài văn nghị luận xã hội
Bài viết cần nêu được các ý chính sau đây:
Bài viết cần nêu được các ý chính sau đây:
a) Mở bài: Dẫn dắt và giới thiệu về vấn đề: Người trẻ và cách ứng xử trước những thói hư tật xấu trong xã hội
b) Thân bài:
- Giải thích thói hư tật xấu là gì? Biểu hiện của thói hư tật xấu
- Người trẻ có cách ứng xử với thói hư tật xấu như thế nào? (Tán đồng và phê phán)
Trong khi bình luận cần nêu lên các bằng chứng minh họa cho lí lẽ.
- Hậu quả nếu người trẻ bị những thói hư tật xấu cám dỗ: Hậu quả với bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
- Cần làm gì để hướng tới lối sống lành mạnh, tránh xa thói hư tật xấu
c) Kết bài: Nêu bài học nhận thức và hành động, liên hệ bản thân





