Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 12 - Đề số 12
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh)
Xác định phong cách ngôn ngữ trong đoạn văn bản trên?
Vận dụng kiến thức về các phong cách ngôn ngữ và căn cứ vào mục đích, đặc điểm của văn bản.
- Phong cách ngôn ngữ trong đoạn văn bản trên là: phong cách chính luận.
Việc nhà văn láy đi láy lại “sự thật” ấy có chủ ý gì?
Vận dụng kiến thức về tác dụng của phép lặp, kết hợp phân tích nội dung và mục đích lập luận của văn bản.
Việc nhà văn láy đi láy lại “sự thật” ấy có chủ ý là: Bác bỏ luận điệu xảo trá của thực dân Pháp trước dư luận thế giới. Thuyết phục Đồng minh nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới ủng hộ nền độc lập của Việt Nam.
Nêu những ý chính của văn bản.
- Đọc kĩ văn bản
- Xác định các luận điểm chính và khái quát nội dung bằng những câu văn ngắn gọn.
Ý chính của văn bản: Hồ Chí Minh đưa ra hai “sự thật” lịch sử để khẳng định nước ta là thuộc địa của Nhật từ năm 1940, đồng thời dân ta đã lấy lại nước từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.
Xác định biện pháp tu từ và ý nghĩa biện pháp tu từ đó trong văn bản trên.
- Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ
- Chỉ ra dấu hiệu nhận biết và phân tích tác dụng trên cả phương diện nội dung lẫn lập luận.
- Biện pháp tu từ trong văn bản là phép điệp cú pháp “Sự thật là…” hai lần.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh tính xác thực, khách quan của hai sự kiện lịch sử quan trọng.
+ Tạo giọng điệu đanh thép, dứt khoát, tăng sức thuyết phục cho lập luận.
+ Khẳng định cơ sở lịch sử và chính nghĩa của nền độc lập Việt Nam, đồng thời bác bỏ luận điệu của thực dân Pháp nhằm tái lập quyền cai trị ở Việt Nam.
II. VIẾT
Phân tích hai câu thơ sau để thấy rõ một tâm hồn dung dị rất đời thường trong thơ Hồ Chí Minh bằng một đoạn văn ngắn khoảng 20 câu:
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”
Chú thích:
- Hai câu thơ trên trích trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh.
- Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm sáng tác trên con đường chuyển lao vất vả khi Hồ Chí Minh bị giam ở Trung Quốc.
- Hai câu trên được dịch thơ như sau:
“Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng”
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
* Yêu cầu:
- Viết đúng đoạn văn nghị luận (đảm bảo yêu cầu về cấu trúc cũng như hình thức).
- Viết đúng nội dung được yêu cầu.
a. Nêu vấn đề:
- Giới thiệu tác giả Hồ Chí Minh, tác phẩm Chiều tối.
- Tâm hồn dung dị rất đời thường trong thơ Hồ Chí Minh qua hai câu thơ cuối.
b. Phân tích:
- Hình ảnh của con người:
+ Khác với thơ trung đại con người chỉ điểm xuyết vào bức tranh, ở đây con người đã trở thành trung tâm của bức tranh.
+ Con người được miêu tả cùng với ánh sáng gần như trở thành trung tâm của bức tranh.
+ Con người trong thơ Hồ Chí Minh xuất hiện khi đang lao động thể hiện một vẻ đẹp khỏe khắn đặc trưng cho thơ ca cách mạng.
- Miêu tả sự vận động và ánh sáng:
+ Ma bao túc, bao túc ma hoàn: Sự lặp lại của công việc xay ngô tối. Đây là một công việc rất mệt mỏi nhưng thông qua lời thơ của Hồ Chí Minh công việc này trở nên nhanh chóng làm cho người ta có cảm giác về một sự hứng khởi, tình yêu, chàn đầy năng lượng.
+ Lô dĩ hồng: Một từ dùng để chỉ ánh sáng. Từ hồng là điểm kết thúc của cối xay ngô như thể khi làm xong việc rồi con người sẽ tỏa sáng. Dùng ánh sáng để miêu tả bóng tối. Một tâm hồn dung dị luôn cảm nhận được vẻ đẹp rất đời thường và con người
=> Cái nhìn rất cận nhân tình. Một trí não luôn nhìn ra được sự vận động, nhìn thấy sự vận động theo hướng ánh sáng.
c. Kết thúc vấn đề: Khái quát lại nội dung, nghệ thuật.
Tuổi trẻ hãy lấy mơ ước làm động lực vươn lên.
Từ góc nhìn của người trẻ, anh chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về tầm quan trọng của việc luôn có mơ ước trong cuộc sống.
Vận dụng kỹ năng viết bài văn nghị luận xã hội
Bài viết cần nêu được các ý chính sau đây:
a) Mở bài: Giới thiệu vấn đề: Tuổi trẻ và ước mơ và khẳng định tuổi trẻ cần biết sống có ước mơ
b) Thân bài:
b.1. Giải thích
– Đặc điểm nổi bật của tuổi trẻ là gì?
– Ước mơ là gì ? Người biết ước mơ có những biểu hiện như thế nào?
– Tại sao tuổi trẻ cần sống có ước mơ?
b.2. Bàn luận
– Phân tích và ca ngợi, biểu dương những người trẻ tuổi biết ước mơ, hoài bão.
– Khi có ước mơ, hoài bão, những người trẻ sẽ đạt được những điều gì?
– Phê phán lối sống không có động lực, mơ ước
Trong khi bình luận cần nêu lên các bằng chứng minh họa cho lí lẽ.
b.3. Liên hệ bản thân và rút ra bài học
– Những biểu hiện của ước mơ ở bản thân anh / chị?
– Làm thế nào để tuổi trẻ ngày càng sống có mục đích, hoài bão hơn?
c) Kết bài: Khẳng định lại sự cần thiết của ước mơ, hoài bão ở người trẻ.





