Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 12 - Đề số 14
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
Thơ viết bằng nỗi nhớ xưa nay khó kể xiết. Nhưng ít có bài nào mà nhớ nhung lại được biểu đạt bằng nhiều chữ lạ và ám đến vậy. Người đọc “Tây Tiến”[1], làm sao quên được chữ “nhớ chơi vơi” trong câu: “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”. “Chơi vơi” là trạng thái của nỗi nhớ hay trạng thái của cảnh vật được nhớ? Nó là cái chông chênh hẫng hụt của kẻ đang phải lìa xa nơi mình từng gắn bó, hay là cái trập trùng xa ngái của rừng núi miền Tây? Thật khó tách bạch. Cả chủ thể và đối tượng dường như đã trộn lẫn vào nhau mà đồng hiện trong một chữ “chơi vơi” ấy. Có phải đó là trạng thái chập chờn rất riêng của cõi nhớ chăng? Chữ “nhớ ôi” này cũng thế: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói/ Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. Nghe cứ nôn nao, nghèn nghẹn thế nào! Không phải “ôi nhớ” lối cảm thán quen mòn. Cũng không phải “nhớ ôi là nhớ!” thật thà, khẩu ngữ. Không phải “nhớ ơi” như tiếng gọi hướng ra người. Mà là “nhớ ôi” như tiếng kêu hướng vào mình. Ta nghe rõ trong lời thơ một nhớ nhung bất chợt cồn lên, kẻ nhớ không thể cầm lòng, đã vỡ oà ra thành tiếng kêu than. Buột miệng ra, mà dư ba súc tích, lạ thay là ngôn từ thơ! Rồi đây, “Tây Tiến” sẽ khuất dần sau những thăng trầm lịch sử, nhưng tiếng kêu kia hẳn sẽ còn gieo được những bồi hồi một thuở vào lòng người đọc mai sau! “Tây Tiến” cứ sống trong nỗi nhớ và sống bằng nỗi nhớ như thế.
(Chu Văn Sơn, “Tây Tiến” sáng tạo từ nỗi nhớ chơi vơi, in trong Thức với mây Đoài (Nhiều tác giả), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2022)
Đoạn trích trên được triển khai theo kiểu đoạn văn diễn dịch, quy nạp hay kết hợp?
Vận dụng kiến thức về cấu trúc đoạn văn: xác định vị trí và vai trò của câu chủ đề, các câu triển khai và câu khái quát.
Đoạn trích được triển khai theo kiểu đoạn văn kết hợp (phối hợp).
Trong đoạn trích, tác giả bàn về những từ nào trong bài thơ Tây Tiến?
Đọc, tìm và xác định từ ngữ/chi tiết được tác giả trực tiếp phân tích, bình luận trong văn bản.
Trong đoạn trích, tác giả bàn về những từ “nhớ chơi vơi”, “nhớ ôi” trong bài thơ Tây Tiến.
Nêu tác dụng của những câu hỏi được sử dụng trong đoạn trích.
Vận dụng kĩ năng phân tích câu hỏi tu từ: xác định hình thức, nội dung được gợi ra và tác dụng đối với lập luận, cảm xúc.
- Đoạn trích có các câu hỏi sau:
+ “Chơi vơi” là trạng thái của nỗi nhớ hay trạng thái của cảnh vật được nhớ?
+ Nó là cái chông chênh hẫng hụt của kẻ đang phải lìa xa nơi mình từng gắn bó, hay là cái trập trùng xa ngái của rừng núi miền Tây?
+ Có phải đó là trạng thái chập chờn rất riêng của cõi nhớ chăng?
- Tác dụng:
+ Gợi ra nhiều khả năng liên tưởng, nhiều lớp ý nghĩa của từ “chơi vơi”.
+ Nhấn mạnh sự đa nghĩa, giàu sức gợi và khả năng biểu đạt tinh tế của ngôn từ thơ.
+ Làm cho cách diễn đạt trở nên sinh động, giàu tính đối thoại, đồng thời tăng sức hấp dẫn và thuyết phục cho lập luận.
Người viết thể hiện thái độ, tình cảm gì với cách dùng từ của tác giá trong bài thơ Tây Tiến?
Dựa vào từ ngữ biểu cảm, lời bình luận và cách phân tích của tác giả để xác định thái độ, tình cảm của người viết.
Người viết thể hiện sự say mê, thích thú, trân trọng và ngưỡng mộ trước cách dùng từ độc đáo, tài hoa của Quang Dũng trong Tây Tiến.
Nêu một số từ ngữ khác lạ hoặc ám ảnh trong một bài thơ viết về nỗi nhớ mà anh / chị đã đọc hoặc đã học và lí giải vì sao?
- Vận dụng kĩ năng liên hệ, cảm thụ và phân tích ngôn ngữ thơ.
- Lựa chọn từ ngữ tiêu biểu, sau đó lí giải sức gợi về hình ảnh, cảm xúc và ý nghĩa.
Gợi ý: Trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, có thể chọn từ “nhớ” trong câu thơ nói về nỗi nhớ của người phụ nữ đang yêu.
Có thể lí giải:
- Từ “nhớ” diễn tả nỗi nhớ da diết, thường trực của người đang yêu.
- Nỗi nhớ không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn bao phủ cả không gian, thời gian, khiến con người luôn hướng về người mình yêu.
- Cách dùng từ giản dị nhưng có sức gợi lớn, góp phần thể hiện một tình yêu chân thành, mãnh liệt và sâu sắc.
II. VIẾT
Napoleon Hill cho rằng: Những thành tựu lớn lao được sinh ra từ sự hi sinh lớn lao, và chẳng bao giờ là kết quả của sự ích kỉ.
James Allen cũng nhấn mạnh: Không thể có tiến bộ hay thành tựu mà không có hi sinh.
(Dẫn theo tudiendanhngon.vn)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu suy nghĩ của anh/ chị về các ý kiến trên.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: vai trò và ý nghĩa của sự hi sinh đối với thành tựu và tiến bộ của con người.
- Kết hợp lí lẽ chặt chẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, phù hợp để làm sáng tỏ quan điểm.
- Có thể đồng tình, bổ sung hoặc phản biện có điều kiện đối với ý kiến, bởi không phải mọi sự hi sinh đều đúng đắn và có ý nghĩa.
- Đoạn văn cần bảo đảm dung lượng khoảng 200 chữ, có sự liên kết giữa các câu, diễn đạt trong sáng, mạch lạc.
Đoạn văn cần nêu được các ý chính sau đây:
a. Mở đoạn: Dẫn dắt và nêu hai ý kiến đã cho; khái quát quan điểm của bản thân (đồng tình, phản đối).
b. Thân đoạn:
- Giải thích hai ý kiến để thấy được cả hai đều khẳng định sự hi sinh của con người mang lại những thành tựu hoặc tiến bộ cho bản thân và nhân loại.
- Bàn luận về ý kiến. HS có thể đồng tình hoặc phản đối hoặc vừa đồng tình vừa phản đối ý kiến đã nêu. Cần có lí lẽ và dẫn chứng cụ thể, có tính thuyết phục.
- Liên hệ bản thân và rút ra bài học
+ Sự hi sinh của bản thân (nếu có).
+ Rút ra bài học cho bản thân và những người xung quanh: cần biết hi sinh (khi cần) để góp phần tạo nên những điều tốt đẹp; không hi sinh mù quáng.
c. Kết đoạn: Khẳng định lại sự cần thiết của đức hi sinh của mỗi người đối với gia đình và xã hội.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích truyện ngắn sau:
HƯƠNG ỔI
Tôi sực nhớ đến số báo đầu thu sắp tới – Cha viết một bài chăng – tôi bảo.
Ông già không nói. Đang nhấp ngụm trà thơm phức mùi ngâu. Hoa ngâu năm ngoái.
Buổi chiều, cô Ngân sang chơi. Cô hàng xóm vừa du học ở Australia về. Cho một đĩa ổi chín. – Cây chặt từ lâu rồi mà. – Tôi ngạc nhiên hỏi.
Cây vườn bên ngày xưa, cứ thu về là hương ổi tỏa sang. Hương nhè nhẹ bâng khuâng. Nhưng tuổi thơ tôi chẳng bao giờ được ăn ổi vườn bên. Tiếng con bé Ngân ríu rít trèo hái quả. Tiếng mùa thu ríu rít. Nhưng cha tôi cẩm, không cho sang. Hai nhà không giao thiệp. Chỉ có hương ối là bay sang.
Tôi cũng chẳng mấy khi gặp mẹ Ngân. Bà đẹp lắm. Đẹp lạ lùng. Nghe nói ngày trẻ, cha tôi yêu bà. Tình yêu từ tuổi ấu thơ có mùi hương ối. Nhưng mẹ cha không ưng thầy kí nhật trình[1] nghèo, chẳng gả. Cha rủ bà trốn. Bà không dám. Rồi một hôm thấy pháo cưới treo trên nhành ối tung toé, quả chín rơi lụp bụp. Cha bà nhận chàng trai đang là kĩ sư công chính[2] về ở rể.
Bức tường ngăn được xây cao thêm và lên rêu năm tháng từ ấy. Nhưng hương ổi thu về vẫn cứ bay sang.
Mẹ tôi và cha Ngân cùng mất một độ, cách đây mấy năm. Bà mẹ chặt cây ổi quý nhưng đã cỗi. Tiếng dao chặt gỗ chan chát trong một buổi sớm đầu thu. Cha tôi ngồi bên cửa sổ run run lục tìm những trang viết ố vàng, nhưng vẫn còn thoảng mùi hương ổi tình đầu...
Vậy sao hôm nay lại có những trái ổi đào?
– Em ươm giống cũ trồng mới đấy. Năm nay ra trái bói. – Ngân nói.
Tôi cắn trái ổi mùa đầu. Và mời cha một trái. Răng ông đã yếu. Nhưng trái của ông chín mềm...
(Nguyễn Phan Hách, Những trang văn chọn lọc, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002, tr. 196 – 197)
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học, kết hợp các thao tác phân tích, chứng minh, nhận xét, đánh giá.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Hương ổi.
- Phân tích tác phẩm dựa trên chi tiết, hình ảnh, lời thoại, hành động và diễn biến tâm lí nhân vật, tránh kể lại truyện.
- Kết hợp phân tích nghệ thuật xây dựng tình huống, ngôi kể, điểm nhìn, hình ảnh biểu tượng, ngôn ngữ giàu chất thơ và cách kết thúc truyện.
- Bài viết bảo đảm bố cục ba phần, lập luận logic, lí lẽ và dẫn chứng phù hợp, diễn đạt trong sáng, mạch lạc.
a. Mở bài: Dẫn dắt, nêu tên tác giả và tác phẩm, cảm nhận khái quát về truyện ngắn Hương ổi.
b. Thân bài:
b.1 Giới thiệu chung về tác giả (nếu có thông tin) và tác phẩm (xuất xứ; thể loại truyện ngắn; kể chuyện ở ngôi thứ nhất số ít, người kể chuyện xưng tôi; điểm nhìn của người kể chuyện; hình tượng nghệ thuật – hương ổi, mang tính ẩn dụ, gắn với các nhân vật trong truyện; tình huống nghệ thuật độc đáo; có một số chi tiết nghệ thuật đặc sắc;...).
b.2 Phân tích truyện ngắn
HS có thể phân tích tác phẩm theo nhiều cách khác nhau nhưng cần tập trung phân tích kĩ ý nghĩa của hình tượng “hương ổi”, tình huống truyện và một số chi tiết nghệ thuật, từ đó chỉ ra đặc điểm của một số nhân vật chính trong truyện và khái quát tư tưởng của tác giả. Tham khảo:
- Hương ổi: là một chứng nhân của tình yêu giữa người cha của nhân vật tôi và mẹ của Ngân – tình yêu từ thuở ấu thơ. Tình yêu của hai người bị ngăn cản nhưng không gì có thể ngăn nổi hương ổi nồng nàn, mỗi độ thu về vẫn cứ bay sang.
- Người cha: có một tình yêu tha thiết nhưng không thành, vẫn giữ kỉ niệm về tình yêu và sống với hoài niệm.
- Nhân vật tôi (người con): thấu hiểu, bao dung, tràn đầy tình yêu thương dành cho cha mình; trân trọng và nâng niu kỉ niệm thời trai trẻ của cha mình.
- Nhân vật Ngân: hồn nhiên và trong sáng, vừa hiện đại vừa truyền thống.
b.3 Đánh giá
- Câu chuyện ngắn gọn, hàm súc, giàu chất thơ; nội dung nhẹ nhàng mà thấm thía, tinh tế.
- Truyện ca ngợi vẻ đẹp của tình yêu đôi lứa, sự thấu hiểu và trân trọng những tình cảm đẹp đẽ, vị tha, nhân hậu, trong sáng của con người.
c. Kết bài: Nêu ấn tượng sâu đậm về truyện ngắn hoặc những suy nghĩ, cảm xúc được gợi ra từ tác phẩm.





