Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 12 - Đề số 13
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
LÃO HÀ TIỆN
(Trích)
(Mô-li-e)
Tóm tắt phần trước: Nhân vật Ác-pa-gông (Harpagon) là một người vô cùng keo kiệt, tích cóp bằng cách cho vay nặng lãi, dè sẻn chi tiêu. Lão chôn trong vườn cái tráp đựng một vạn đồng tiền vàng nên luôn cảnh giác với mọi người. Lão không biết con trai mình Clê-ăng (Cleante) – đang yêu cô gái nghèo Ma-ri-an (Marianne), còn con gái E-li-dơ (Elise) đã thầm ước hẹn với anh chàng quản gia Va-le-rơ (Valere). Ác-pa-gông toan tính sắp đặt cuộc đời các con theo hướng khác để “tiết kiệm được một món to”.
Hồi 1, Lớp 5
[..] Ác-pa-gông: Chiều nay tạo định gả nó cho một người vừa giàu có lại vừa từng trải, thể mà con bé dám bảo thẳng vào mặt tao là nó chẳng thèm. Thế thì mày bảo sao nào?
- Va-le-rơ: Cháu bảo sao ấy à?
- Ác-pa-gông: Phải Va-le-ro: Ò... Ò...
- Ác-pa-gông: Gì kia?
- Va-le-rơ: Cháu bảo là đại để cháu cũng nghĩ như ông; mà cũng chẳng có lí nào ông lại không phải được. Song, cô thì cũng không phải hoàn toàn không đúng, và...
- Ác-pa-gông: Sao hử? Ngài Ăng-xen-mơ là một đám có giá trị lớn; một bậc quý tộc chính cống, hiền lành, trang trọng, từng trải, lại của cải như nước, người ta goả vợ mà không còn một đứa con nào của vợ trước. Hỏi có đám nào hơn thế nữa không?
- Va-le-rơ: Đúng thế đấy ạ. Nhưng cô có thể bảo rằng cưới ngay như thế thì khi hấp tấp, ít ra cũng phải khoan khoan, xem tính tình cô cháu có hợp với...
- Ác-pa-gông: Một cơ hội như thế, phải nắm ngay chứ. Ở đám này, tao thấy có một cái lợi mà không đảm nào hòng có được: ông ấy bằng lòng lấy cô mà không đòi của hồi môn.
- Va-le-rơ: Không đòi của hồi môn?
- Ác-pa-gông: Phải.
- Va-le-rơ: Ủi chà! Thế thì cháu còn nói thế nào được nữa. Ông thấy không? Li lẽ ấy thuyết phục được hoàn toàn, phải bỏ tay mà chịu.
- Ác-pa-gông: Như thế, tạo tiết kiệm được một món to.
- Va-le-rơ: Đúng quá, còn ai cãi lại được. Song kể thì cô cũng có thể bảo rằng việc trăm năm là một việc trọng đại hơn người ta tưởng nhiều, và có quan hệ đến cả một đời người sướng hay khổ, cho nên lấy nhau để ăn đời ở kiếp với nhau, bao giờ cũng phải hết sức thận trọng mới được.
- Ác-pa-gông: Không của hồi môn.
- Va-le-rơ: Ông nói phải: cái lí lẽ ấy quyết định tất cả, điều đó dễ hiểu thôi. Có người có thể bảo ông rằng trong những trường hợp như thế này, cũng nên chú ý xem lòng dạ người con gái như thế nào mới phải; chứ tuổi tác quá chênh lệch, tỉnh tình, tình cảm quá khác nhau như thế thì lấy nhau chỉ gây ra tai hoạ, rất rầy rà.
- Ác-pa-gông: Không của hồi môn.
- Va-le-rơ: À, như thế thì còn bẻ vào đâu được; điều ấy, ai cũng biết rõ rành rành, mà nào dám nói trái được. Nhưng không phải là không có vô số ông bố muốn coi trọng việc làm toại ý con hơn là đồng tiền có thể bỏ ra cho con; không muốn vì tiền tài mà hi sinh con và chẳng mong gì hơn là tìm cho con được nơi vừa đôi phải lửa để cho cuộc đời con luôn luôn giữ được thanh danh, được êm ả và vui vẻ, với lại,...
- Ác-pa-gông: Không của hồi môn.
- Va-le-rơ: Đúng thể; không của hồi môn, lí lẽ ấy đủ bịt mồm thiên hạ. Cái lí lẽ như thế, ai còn cưỡng lại cho nổi.
- Ác-pa-gông (nhìn ra ngoài vườn, nói một mình): – Úi chà! Hình như có tiếng chó sủa. Có kẻ muốn lấy trộm tiền của mình chăng? (Nói với Va-le-rơ) Đừng đi đâu, tao vào ngay nhả. (Vào).
[...]
- Va-le-rơ: Phải rồi, trên thế gian này, tiền là quý hơn hết; được sinh vào cửa ông đây, thật là phúc trời dành cho cô. Ông hiểu rõ sống là phải như thế nào: khi đã có nơi tự nguyện không đòi của hồi môn[1], thì không còn được mong ước gì hơn nữa. Đấy, tất cả là ở đấy. Việc không đòi của hồi mỗn thay thế cho sắc đẹp, cho tuổi trẻ, cho dòng dõi, cho danh dự, cho sự khôn ngoan, cho lòng chính trực.
- Ác-pa-gông: À, thằng bé giỏi! Nói chẳng khác gì lời sấm truyền[2]. Được thằng người nhà như thế kể cũng sướng đời.
(Đỗ Đức Hiểu dịch, giới thiệu và chú thích, “Lão hà tiện” hài kịch của Mô-li-e-rơ, NXB Giáo dục)
[1] Hồi môn: tài sản của người con gái khi lấy chồng đem theo về nhà chồng.
[2] Lời sấm truyền: lời dự báo của người có khả năng đặc biệt về các sự kiện lớn trong tương mà ai cũng tin là đúng.
Nêu tình huống kịch trong văn bản.
Vận dụng kiến thức về tình huống kịch, xác định sự việc, mâu thuẫn và hoàn cảnh giao tiếp làm nảy sinh, phát triển xung đột giữa các nhân vật.
Tình huống kịch: Ác-pa-gông muốn ép gả con gái E-li-dơ cho ngài Ăng-xen-mơ vì người này giàu có và đặc biệt là không đòi của hồi môn, trong khi Va-le-rơ tìm cách thuyết phục Ác-pa-gông từ bỏ ý định đó.
Lời thoại nào trong văn bản là lời độc thoại?
- Vận dụng kiến thức về đối thoại và độc thoại trong kịch.
- Độc thoại là lời nhân vật tự nói với chính mình, không nhằm trực tiếp trao đổi với nhân vật khác.
Lời độc thoại trong văn bản: “Úi chà! Hình như có tiếng chó sủa. Có kẻ muốn lấy trộm tiền của mình chăng?”
Chỉ ra và làm rõ mục đích giao tiếp của Va-le-rơ được thể hiện qua các lời thoại của nhân vật này.
- Vận dụng kĩ năng phân tích lời thoại nhân vật và mục đích giao tiếp.
- Căn cứ vào nội dung các lời thoại, hoàn cảnh giao tiếp và mối quan hệ giữa các nhân vật để xác định mục đích nói.
Mục đích giao tiếp của Va-le-rơ được thể hiện qua lời thoại của nhân vật:
- Thuyết phục Ác-pa-gông từ bỏ ý định gả con gái cho Ăng-xen-mơ. Để thực hiện được mục đích này, Va-le-rơ đã phân tích những lí do như: cưới ngay như thế thì hấp tấp, ít ra phải khoan khoan xem tính tình cô cháu có hợp không; việc trăm năm là việc trọng đại hơn người ta tưởng nhiều và có quan hệ đến một đời người, sướng hay khổ, phải hết sức thận trọng mới được; phải chú ý xem lòng dạ người con gái thế nào mới phải, chứ tuổi tác quá chênh lệch, tính tình tình cảm quá khác nhau như thế thì lấy nhau chỉ gây ra tai hoạ, rất rầy rà; vô số ông bố muốn coi trọng việc làm toại ý con hơn là đồng tiền bỏ ra cho con, không muốn vì tiền tài mà hi sinh con, chẳng mong gì hơn là tìm cho con được nơi vừa đôi phải lứa để cuộc đời con luôn giữ được thanh danh, được êm ả, vui vẻ.
- Bảo vệ tình yêu của mình với Ê-li-dơ. Va-le-rơ và Ê-li-dơ đã thầm ước hẹn. Nếu thuyết phục được Ác-pa-gông từ bỏ ý định ép duyên con thì cũng đồng nghĩa Va-le-rơ có cơ hội để tìm cách công khai tình cảm của mình.
Việc lặp lại chi tiết “Không của hồi môn” trong lời thoại của nhân vật Ác-pa-gông đem lại hiệu quả nghệ thuật gì?
- Vận dụng kiến thức về biện pháp điệp ngữ/lặp lại trong lời thoại kịch.
- Phân tích tác dụng trên ba phương diện: khắc họa nhân vật, thể hiện nội dung và tạo tiếng cười.
- Cụm từ “Không của hồi môn” được Ác-pa-gông lặp đi lặp lại nhiều lần, cho thấy:- Khắc họa nổi bật tính cách keo kiệt, hám tiền, thực dụng của Ác-pa-gông.
+ Cho thấy đồng tiền đã trở thành mối quan tâm duy nhất, chi phối suy nghĩ và quyết định của lão. Trước những lí lẽ về tình yêu, tuổi tác, hạnh phúc, danh dự của con gái, lão đều chỉ quan tâm đến một điều: không phải bỏ tiền làm của hồi môn.
+ Việc lặp lại tạo nhịp điệu hài hước, gây cười, khiến lời thoại của Ác-pa-gông trở nên máy móc, ám ảnh.
+ Tác giả châm biếm, phê phán xã hội coi trọng đồng tiền, khi tiền bạc được đặt cao hơn tình yêu, hạnh phúc và những giá trị nhân văn.
Tiếng cười trong văn bản có ý nghĩa như thế nào đối với sự tiến bộ xã hội?
- Vận dụng kiến thức về đặc trưng và chức năng của tiếng cười hài kịch.
- Làm rõ tiếng cười không chỉ có chức năng giải trí mà còn có chức năng phê phán, giáo dục và hướng con người tới những giá trị tốt đẹp.
Tiếng cười trong văn bản chẳng những có tác dụng giải trí mà còn giàu ý nghĩa, giá trị đối với sự tiến bộ xã hội:
- Giúp người đọc nhận thức được tác hại ghê gớm, khủng khiếp khi đồng tiền chiếm địa vị thống trị trong cuộc sống. Thói keo kiệt, hám vàng, tôn thờ đồng tiền là “chúa tể của tâm hồn” đã khiến con người trở nên thực dụng, lạnh lùng, toan tính, mưu mô, sẵn sàng đánh đổi mọi thứ, hi sinh những điều thiêng liêng khác, làm băng hoại những giá trị đạo đức của xã hội.
- Giúp con người có khát vọng “tống tiễn”, cái xấu, cái ác – thói tham lam, keo kiệt – trong cuộc sống và những thói hư tật xấu trong chính bản thân mình, làm cho xã hội trở nên tốt đẹp, lành mạnh, nhân ái hơn,...
- Tất cả những điều này trong tác phẩm hài kịch được thể hiện bằng một phương thức đặc biệt, thứ vũ khí đặc biệt: tạo ra tiếng cười để qua đó cải tạo cuộc sống.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nét độc đáo của không gian, thời gian trong văn bản sau:
Âm vang chiêng trầm hùng, khoan nhặt, nhịp múa và vẻ mặt thành kính trang nghiêm của những người phụ nữ khiến Suzana rùng mình. Đi nhiều nơi trên thế giới, tận mắt thấy nhiều tầng văn hoá, nhưng chưa bao giờ chị được thưởng thức một thứ âm nhạc nghi lễ nào lạ mà lại hay đến thế. Tiếng chiêng xoay xoáy vào bóng đêm, trôi lang thang vô tận giữa rừng già, lặn xuống đáy dòng sông Srêpôk sâu thẳm. Âm thanh binh boong ấy không phải là tiếng than khóc, vẫn là tiếc thương, vẫn là níu kéo đấy, nhưng lại lịch lãm và trang trọng dành cho sự tiễn biệt vĩnh viễn. Tiếng thầy cúng bỗng nổi lên trên: “Ơ Yang atáo, ơ Yang”... Suzana trôi đi, trôi đi theo nhịp điệu và âm thanh của dàn chiêng. Trong đêm tiếng chiêng loang xa khắp đất trời, rừng cây. Đỉnh núi Cư Minh như mỗi lúc một nghiêng thấp xuống, thầm lặng nghe.
Một áng mây đen che khuất mặt trăng. Rừng tối lại. Gió dường như ngừng thổi. Vẳng tiếng nói khiến Suzana giật mình quay lại. Một bà lão trong bộ váy áo thổ cẩm, tóc bạc trắng xoã dài đến tận gót chân. Người phương Tây như chị là cao, mà bà cũng lớn người không kém, dáng vươn thẳng, uy nghiêm, bên cạnh là một người đàn ông mặc khổ, ở trần, dáng thấp đậm cường tráng, đầu vấn khăn đỏ, tay chống một chiếc lao dài:
- Này cô kia! Người là ai? Làm gì ở đây?
- Bà là ai mà lại hỏi tôi?
- Ta là chủ nhân vùng này. Chính ta đã nhường phần đất đai để Y Thu Rnul đây lập buôn. Tiếng người đàn ông trầm trầm như phát ra từ rất sâu trong lồng ngực:
- Chúng ta về đón linh hồn của Aê Phi và bảo vệ cho con cháu bình an trước sự có mặt của kẻ lạ.
- Bà là Yă Wam ư? Tôi có nghe chồng kể về bà và ông Vua voi đây rồi.
- À, người chính là kẻ xa lạ đã đến đây đem đứa con trai rời khỏi cánh tay người mẹ! Khiến cho nó khác nào “con chim ngói tìm theo nẳng, con chim két tìm theo gió mà bỏ tổ”.
- Nhưng thưa bà, chúng tôi thật lòng yêu thương nhau. Bà thấy đó, chúng tôi đã về ngay khi gia đình báo tin làm lễ bỏ mả cho cha anh ta đấy thôi. [...] Tôi yêu chồng tôi! Chúng tôi đã phải rất khó khăn mới qua được những luật lệ bà đặt ra từ xưa để thành vợ chồng. Và tôi chấp nhận tất cả, thậm chí còn ngưỡng mộ những nét văn hoá đặc sắc đang diễn ra trước mắt kia. [...]
- Vì người yêu nó nên bây giờ chúng ta cho phép người có mặt ở đây. Nhưng người hãy nhớ, vòng đồng người đã cầm, rượu cần dâng các Yang linh thiêng người đã uống, nếu chỉ có một lời nói, một cử chỉ nào chê bai, sẽ phải gánh lấy hình phạt theo luật tục của ta đấy.
Người cũng sẽ phải chịu hình phạt nếu làm cho Y Khoan “khi uống rượu ngon nó quên, lúc ăn trâu uống heo nó không nhớ đến bố mę de".
- Nhưng thưa bà, thưa ông,...
Trăng ló ra khỏi đám mây, mặt đất sáng rỡ. Dào dạt gió. Mơ hồ sương. Một làn khói mong manh bay vút lên tan biến trong vòm xanh lơ mờ mờ hun hút của bầu trời. Suzana giật mình mở choàng mắt.
[...]
Cây cối, cỏ lau rạp mình xuống chào Thần gió Yang kngin một lần nữa lại quét ngang qua đại ngàn. Rừng khộp luyến tiếc gửi nốt theo cái đuôi dài lê thê của gió những chiếc lá đỏ cuối cùng còn sót lại trên cành, làm thành một vệt mỏng uốn lượn trên không trung. Nơi chân trời bình minh đang hồng lên rất nhanh bảo ngày đã đến. Binh boong, binh boong lẫn trong gió tiếng chiêng vẫn xa gần, gần xa,...
(Trích Pơ thi mênh mang mùa gió[1], Linh Nga Nie Dam, in trong Truyện ngắn mười năm đầu thế kỉ XXI, NXB Hội Nhà văn, 2010, tr.270-273)
[1] Tóm tắt phần trước: Suzana – một phụ nữ châu Âu – tham gia dự án “Bảo tồn hệ sinh thái đa dạng rừng” ở Buôn Đôn, gặp gỡ và nên duyên với Y Khoan, chàng trai Êđê làm cùng dự án. Họ vừa từ Thụy Sĩ trở về Buôn Đôn làm lễ bỏ mả Pơthi cho bố Y Khoan. Việc bỏ mả là một lễ nghi quan trọng của dòng tộc, là cuộc chia tay vĩnh viễn với người đã khuất. Suzana yêu mến con người và mảnh đất Ban Mê nên cô say sưa, đắm mình vào những lễ nghi, phong tục này của gia đình, dòng tộc chồng. Khi đêm sâu dần, Suzana nằm đung đưa trên chiếc võng gần nhà mồ.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học, kết hợp phân tích và nhận xét để làm rõ đặc điểm không gian, thời gian nghệ thuật.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: nét độc đáo của không gian và thời gian trong đoạn trích.
- Lựa chọn các chi tiết tiêu biểu về cảnh vật, âm thanh, thời điểm để phân tích; kết hợp lí lẽ với dẫn chứng xác thực từ văn bản.
- Đoạn văn cần bảo đảm dung lượng khoảng 200 chữ, có câu chủ đề, triển khai mạch lạc và có đánh giá về hiệu quả nghệ thuật.
a. Mở đoạn:
b. Thân đoạn: Làm rõ sự độc đáo của không gian, thời gian trong văn bản:
- Thời gian được kể trong văn bản là khoảng giữa của lúc đêm đã sâu, lúc bóng đêm bao trùm và “ngày đã đến”. Lúc này chỉ còn lại những người thân trong gia đình bên nhà mồ của người đã khuất. Đây là thời gian thiêng liêng trong phong tục lễ Pơ thi của người Ê đê. Không gian trong văn bản hiện ra với bóng đêm, rừng già, dòng sông Srêpôk, đất trời, rừng cây, đỉnh núi Cư Minh,... Trong không gian ấy, hiện lên “âm vang chiêng trầm hùng, khoan nhặt, nhịp múa và vẻ mặt thành kính của những người phụ nữ”, “tiếng chiêng xoay xoáy”, “tiếng thầy cúng” Ơ Yang atâo, ở Yang”,... của nghi lễ Pơ thi. Đó là không gian Tây Nguyên, xưa đã vậy và nay vẫn thế.
- Hiệu quả nghệ thuật của việc tái hiện không gian, thời gian độc đáo trong văn bản:
+ Gợi ấn tượng về sự thiêng liêng trong phong tục lễ Pơ thi của người Ê đê, gợi màu sắc Tây Nguyên; + Làm cho sự việc được kể có chất phiêu diêu, giao thoa, đan quyện nhiều màu sắc, có xa xưa, truyền thống, có hiện tại, mới mẻ, đưa nhân vật vào trạng thái chập chờn giữa thực và mơ, giữa diễn biến sự việc hiện tại với kí ức cổ đại, giữa nền văn hoá hiện đại với văn hoá truyền thống, tập tục truyền thống, giữa văn hoá của cha ông nơi đất này với tâm tình của con cháu đến từ những nền văn hoá khác;
+ Làm cho câu chuyện không chỉ là cuộc gặp gỡ giữa hai thế hệ mà còn là sự đối thoại giữa hai nền văn hoá. Câu chuyện vừa mang sắc thái linh thiêng, thấm thía của một cuộc dặn dò, truyền trao, giáo huấn, vừa rất gần gũi, chân tình bởi sự thương lượng, đối thoại, chia sẻ giữa ông bà và con cháu.
c. Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề nghị luận: Việc tái hiện không gian, thời gian độc đáo cùng ngôn từ đậm màu sắc Tây Nguyên đã đem đến cho văn bản màu sắc truyền thống và hiện đại, lôi cuốn người đọc vào một thế giới mới lạ, hấp dẫn, có chút liêu trai mê mị, vẫn giữ được tính lí trí, giáo dục truyền thống. Đây là thế mạnh của truyện ngắn Linh Nga Nie Dam, một người con dân tộc Ê đê viết về Tây Nguyên.
Tri thức là con mắt của đam mê và có thể trở thành hoa tiêu của tâm hồn. (Benjamin Franklin) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: vai trò của tri thức trong việc định hướng đam mê và bồi đắp tâm hồn con người.
- Kết hợp lí lẽ chặt chẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, phù hợp để làm sáng tỏ các luận điểm.
- Bài viết cần bảo đảm bố cục ba phần, lập luận logic, diễn đạt trong sáng, mạch lạc.
a. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Vai trò của tri thức trong mối quan hệ với đam mê và sự bồi đắp tâm hồn của con người – Tri thức là con mắt của đảm mê và có thể trở thành hoa tiêu của tâm hồn (Benjamin Franklin).
b. Thân bài
* Giải thích:
- Tri thức: Những hiểu biết của con người về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội do học tập, trải nghiệm, tích luỹ,... mà có được;
- Đam mê: Sự ham thích, có hứng thú, say mê đặc biệt với một điều gì đó đến mức dường như quên hết tất cả những việc khác;
- Con mắt: Nghĩa gốc vốn để chỉ cơ quan giúp con người có thể nhìn thấy thế giới bên ngoài, trong câu văn này, con mắt mang nghĩa biểu tượng giúp con người biết nhận thức, định hướng,... trong cuộc sống.
- Hoa tiêu: Người am hiểu tình hình, điều kiện đường thuỷ và đường không, giúp cho việc điều khiển tàu bè, máy bay hoạt động an toàn, trong câu văn được dùng với nghĩa ẩn dụ – giúp con người định hướng và tự điểu chỉnh bản thân trong hành trình xây dựng, bồi đắp tâm hồn.
- Nội dung của câu nói: Khẳng định tri thức có vai trò quan trọng, giúp con người làm chủ niềm đam mê và định hướng cho họ trong quá trình bồi dưỡng tâm hồn.
* Phân tích :
- Tri thức cho chúng ta “con mắt” để xác định và lựa chọn niềm đam mê cho bản thân. Con người thường có những đam mê. Trong số đó có những đam mê chân chính, hữu ích, là nguồn năng lượng dồi dào, mạnh mẽ, truyền cảm hứng để chúng ta vươn tới, nỗ lực chinh phục. Song cũng có những đam mê ngộ nhận, sai lầm, tội lỗi có thể đẩy con người vào vực thẳm của sự sa ngã; Sống trong niềm đam mê, con người thường hành động theo sự chi phối của tình cảm, cảm hứng, sự say mê quá đỗi, ít quan tâm đến việc hành động theo lí trí, cũng ít quan tâm đến khả năng thực sự của mình, vì vậy dễ bị mù quáng; Tri thức giúp chúng ta xác định đâu là niềm đam mê chân chính xứng đáng để theo đuổi, đâu là những “cái bẫy đam mê” cần phải tránh xa; Tri thức cho chúng ta “con mắt” để xác định liệu niềm đam mê của ta có thực sự phù hợp với chúng ta không để cân nhắc, điều chỉnh. Trị thức cho chúng ta một lí trí sáng rõ để “Nếu đam mê chở bạn đi, hãy để lí trí nắm lấy dây cương” (Benjamin Franklin).
- Tri thức là “hoa tiêu” giúp chúng ta xác định con đường để chinh phục đam mê, bồi đắp tâm hồn:
+ Chinh phục đam mê, bồi đắp tâm hồn là một quá trình hành động của con người. Niềm đam mê cần được hiện thực hoá bằng những việc làm cụ thể. Để có thể thực hiện được điều ấy, chỉ sự say mê hưng phấn là chưa đủ. Cần có tri thức để vạch đường dẫn lối bước đi, giúp ta xác định mình sẽ bắt đầu bằng điều gì, thực hiện như thế nào, vì sao làm như vậy thì có thể thành công, những sai lầm nào có thể xảy ra trong quá trình thực hiện,... “Trí tuệ thông suốt cũng có nghĩa là đam mê thông suốt” (Blaise Pascal);
+ Chinh phục đam mê, bồi đắp tâm hồn cũng là quá trình lâu dài, nhiều khó khăn, thử thách. Trở ngại có thể đến từ những yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau. Tri thức giúp chúng ta có khả năng phân tích, xác định nguyên nhân, tìm cách khắc phục, cho con người niềm tin và sự kiên trì để đi theo con đường mình đã chọn.
- Chứng minh, làm rõ ý kiến bằng các minh chứng:
+ Nhận thức được vai trò quan trọng của tri thức, nền giáo dục của các quốc gia trên thế giới đều chú trọng bồi đắp, mở mang hiểu biết cho con người (phong trào diệt “giặc dốt” của chính quyền cách mạng ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trong đó có nước ta, các cột trụ học tập được đề xướng bởi UNESCO, tư tưởng học tập suốt đời,...);
+ Những tấm gương của các nhà khoa học, các nhà hoạt động chính trị xã hội theo đuổi niềm đam mê nghiên cứu và cải tạo xã hội bằng con đường của sự mở mang tri thức, học tập không ngừng;
+ Bối cảnh “thế giới phẳng” đã tạo cơ hội cho nhiều bạn trẻ mở rộng cánh cửa hiểu biết, chinh phục đam mê trong những lĩnh vực khác nhau: nghiên cứu, sáng tạo, trải nghiệm, bồi đắp tâm hồn thêm giàu có, phong phú, thu được những thành công;
+ Một số bạn trẻ chưa biết sử dụng hiểu biết để định hướng cho đam mê và con đường tu dưỡng, xây dựng tâm hồn nên đã sa đà, lạc lối vào những đam mê sai trái, vi phạm chuẩn mực đạo đức, pháp luật,...
* Bình luận, liên hệ
- Tri thức, đam mê là hai trong số nhiều yếu tố làm nên vẻ đẹp của tâm hồn con người. Trong cuộc sống, cần tránh độc tôn: chỉ quan tâm đến tri thức mà nguội tắt đam mê, chỉ theo đuổi niềm say mê, hưng phấn mà không có định hướng hiểu biết.
- Hãy làm bừng “con mắt” sáng của đam mê, sự tinh thông của “hoa tiêu” trong tâm hồn mình bằng cách nỗ lực học hỏi, khám phá, nâng cao hiểu biết, nuôi dưỡng ngọn lửa đam mê, kiên trì, bền bỉ theo đuổi con đường đã chọn; chia sẻ ngắn gọn trải nghiệm về giá trị, vai trò của tri thức trong việc định hướng, dẫn đường cho đam mê và hành trình xây đắp tâm hồn bản thân của cá nhân.
c. Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của vấn đề nghị luận: Ý kiến giúp mỗi chúng ta có hiểu biết đúng đắn về vai trò của tri thức, trau dồi hiểu biết để làm chủ niềm đam mê và hành trình kiến tạo tâm hồn.





