Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 12 - Đề số 12
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
CHUYỆN NGƯỜI NGHĨA PHỤ Ở KHOÁI CHÂU[1]
(Nguyễn Dữ)
Tóm tắt phần đầu: Trọng Quỳ nhà họ Phùng, Nhị Khanh nhà họ Từ được cha mẹ đôi bên ưng thuận cho kết duyên. Nhị Khanh sau khi về nhà chồng khéo biết cư xử, ai cũng khen, còn Trọng Quỳ lại dần sinh ra chơi bời lêu lổng, Nhị Khanh vẫn thường phải can ngăn. Cha của Trọng Quỳ được tiến cử vào Nghệ An dẹp giặc, Nhị Khanh khuyên chồng đi cùng cha. Ở nhà, cha mẹ Nhị Khanh tạ thế. Nàng lo việc hậu sự chu đáo rồi đến ở chung với bà cô là Lưu thị. Lưu thị rắp tâm muốn gả Nhị Khanh cho cháu họ ngoại là quan tướng quân họ Bạch song Nhị Khanh một mực chối từ, nhờ bố già[2] lặn lội vào xứ Nghệ tìm chồng về. Vợ chồng sum họp. Nhưng Trọng Quỳ lại trở về tính cũ, bê tha, lêu lổng, cờ bạc, Nhị Khanh khuyên nhủ cũng không nghe. Kẻ lái buôn Đỗ Tam say mê nhan sắc Nhị Khanh nên đã rủ Trọng Quỳ cùng đánh bạc, Đỗ bỏ ra trăm vạn đồng tiền còn Trọng Quỳ kí giao kèo bằng Nhị Khanh. Trọng Quỳ thua bạc, phải gọi Nhị Khanh đến để nói rõ sự tình.
Nàng liệu cơ không thể thoát khỏi, giả vờ nói tử tế rằng:
- Bỏ nghèo theo giàu, thiếp lẽ đâu từ chối. Số trời xếp đặt, há chẳng là tiền định hay sao! Nếu chồng mới không nỡ rẽ bỏ, còn đoái thủ đến cái dung nhan tàn tạ này, thiếp xin sửa túi nâng khăn, hết lòng hầu hạ, như đã đối với chàng xưa vậy nhưng xin cho uống một chén rượu, mượn làm một chén tiễn biệt và cho về từ giã các con một chút.
Đỗ cả mừng, rót đầy một chén xà cừ rượu đưa mời nàng uống. Uống xong, nàng về nhà ôm lấy hai con, vỗ vào lưng mà bảo rằng:
Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm. Biệt li là việc thường thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó khăn gì nhưng mẹ chỉ nghĩ thương các con mà thôi.
[Lược một đoạn: Nhị Khanh tự vẫn. Trọng Quỷ hối hận vô cùng, sắm đồ liệm táng tử tế rồi làm một bài văn tế nàng.]
Trọng Quỳ đã goá vợ, rất ăn năn tội lỗi của mình. Song sinh kế ngày một cùng quẫn, ăn bữa sớm lo bữa tối, phải đi vay quanh của mọi người làng xóm. Nhân nghĩ có một người bạn cũ, hiện làm quan ở Quy Hoá[3] bèn tìm đến để mong nhờ vả. Dọc đường buồn ngủ, chàng nằm ghé xuống ngủ ở gốc cây bàng, bỗng nghe trên không có tiếng gọi rằng:”Có phải Phùng lăng đấy không? Nếu còn nghĩ đến tình xưa thì ngày ấy tháng ấy xin đến chờ thiếp ở cửa đền Trung Vương[4]”. Ân tình thiết tha, đừng coi là âm dương cách trở.
Sinh lấy làm lạ tiếng giống như tiếng Nhị Khanh, mở mắt ra nhìn thì chỉ thấy trên trời một đám mây đen bay về tây bắc. Sinh tuy rất lấy làm ngờ nhưng cũng muốn thử xem ra sao, bèn đúng hẹn đến trước đền ấy. Song đến nơi chỉ thấy bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu ở trên cành cây xao xác. Sinh buồn rầu toan về thì mặt trời đã lặn, bèn ngả mình nằm ở một tấm ván nát trên một cái cầu. Khoảng cuối canh ba, bỗng nghe thấy tiếng khóc nức nở từ xa rồi gần; khi thấy tiếng khóc chỉ còn cách mình độ nửa trượng, nhìn kĩ thì người khóc chính là Nhị Khanh. Nàng bảo với Sinh rằng:
- Đa tạ ơn chàng, từ xa lặn lội tới đây, biết lấy gì để tặng chàng được!
Trọng Quỳ chỉ tự nhận tội lỗi của mình. Nhân hỏi đầu đuôi thì Nhị Khanh nói: Thiếp sau khi mất đi, Thượng đế thương là oan uổng bèn ra ân chỉ. Hiện thiếp được lệ thuộc vào toà đền này, coi giữ về những sổ sách văn tấu đối, không lúc nào nhàn rỗi để thăm nhau được. Bữa nọ nhân đi làm mưa, chợt trông thấy chàng nên mới gọi; nếu không thì nghìn thu dằng dặc, chẳng biết đến bao giờ được gặp gỡ nhau.
[...] Trời gần sáng, Nhị Khanh vội dậy để cáo biệt, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại, rồi thoắt chốc thì biến đi mất. Trọng Quỳ bèn không lấy ai nữa, chăm chỉ nuôi hai con cho nên người. Đến khi vua Lê Thái Tổ tuốt gươm đứng dậy ở Lam Sơn, hai người con trai đều đi theo, trải làm đến chức Nhập thị nội. Đến nay ở Khoái Châu hiện còn con cháu.
Lời bình: Than ôi, người con gái có ba đạo theo, theo chồng là một. Nàng Nhị Khanh chết, có quả là đã theo chồng không? Thưa rằng không. Đời xưa bảo theo, là theo chính nghĩa chứ không theo tà dục [...] Có người vợ như thế mà để cho phải hàm oan, Trọng Quỳ thật là tuồng chó lợn. Muốn tề được nhà, phải trước tự sửa mình lấy chính, khiến cho không thẹn với vợ con, ấy là không thẹn với trời đất.
(Trích Truyền kì mạn lục, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, NXB Giáo dục, 2001, tr.242-250)
[1] Khoái Châu: tên huyện, nay thuộc tỉnh Hưng Yên
[2] Bố già: người đầy tớ già.
[3] Quy Hoá: nay thuộc tỉnh Phú Thọ
[4] Đền Trưng Vương: nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội.
Truyện viết về đề tài gì?
Vận dụng kiến thức về đề tài của tác phẩm tự sự, khái quát vấn đề, phạm vi hiện thực được phản ánh qua nhân vật và sự việc chính.
Đề tài của truyện: người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Chỉ ra một biện pháp tu từ trong câu sau: “Song đến nơi chỉ thấy bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu ở trên cành cây xao xác”.
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ, nhận diện các cách tổ chức từ ngữ, hình ảnh đặc biệt trong câu văn.
Học sinh chỉ ra được một trong hai biện pháp tu từ sau:
- Biện pháp tu từ đối: bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân.
- Biện pháp tu từ liệt kê: bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu ở trên cành cây xao xác.
Nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản.
Vận dụng kiến thức về đặc trưng của thể loại truyền kì, phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo trên các phương diện: nội dung, nhân vật, tư tưởng và nghệ thuật.
Tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản:
- Góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm và thái độ, tư tưởng của tác giả: Khẳng định nỗi oan uổng, vẻ đẹp khí tiết của người phụ nữ được chứng giám; Nhấn mạnh thái độ bất bình trước thực tại qua số phận bất hạnh của người phụ nữ khi họ không thể tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống đời thường ở xã hội đương thời; Giảm bớt tính bi kịch của số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, thể hiện mong ước người phụ nữ có phẩm chất tốt sẽ có kết cục tốt đẹp,...
- Tạo tính li kì, hấp dẫn cho tác phẩm.
Phát biểu chủ đề của truyện.
Vận dụng kĩ năng khái quát chủ đề tác phẩm tự sự, dựa vào số phận, phẩm chất nhân vật, các sự kiện chính và lời bình của tác giả.
Chủ đề: Truyện phản ánh số phận đau khổ, thiệt thòi và vẻ đẹp đáng trân trọng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Lời bình cuối truyện không chỉ cho thấy thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật, mà còn là thông điệp về việc “tự sửa mình”. Hãy đánh giá về ý nghĩa của thông điệp này đối với con người trong bối cảnh xã hội ngày nay.
- Vận dụng kĩ năng nghị luận xã hội, kết hợp giải thích, phân tích, bình luận và liên hệ.
- Xác định thông điệp: mỗi người cần biết tự nhận thức, tự điều chỉnh và sửa chữa những hạn chế của bản thân.
Gợi ý:
- Thông điệp “tự sửa mình” vẫn có ý nghĩa sâu sắc trong xã hội ngày nay.
- “Tự sửa mình” là chủ động nhận ra khuyết điểm, sai lầm, điều chỉnh suy nghĩ và hành vi để hoàn thiện bản thân.
- Con người cần “tự sửa mình” vì:- Không ai hoàn hảo, mỗi người đều có những hạn chế cần khắc phục.
+ Biết nhìn lại bản thân giúp con người trưởng thành, sống có trách nhiệm và hoàn thiện nhân cách.
+ Một cá nhân biết sửa sai sẽ hạn chế những tổn thương gây ra cho gia đình, cộng đồng và xã hội.
- Trong cuộc sống hiện đại, con người càng cần khả năng tự nhận thức và tự điều chỉnh, thay vì đổ lỗi cho hoàn cảnh hoặc người khác.
- Tuy nhiên, “tự sửa mình” không có nghĩa là phủ nhận giá trị bản thân mà là biết tiếp nhận góp ý, dũng cảm đối diện với thiếu sót và chủ động thay đổi theo hướng tốt đẹp.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tác dụng của sự kết hợp giữa yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong văn bản truyện kí sau:
Mấy ngày nay, chị Quyên không có giờ nghỉ. Nghe tin vợ anh Nguyễn Văn Trỗi tới dự Đại hội Phụ nữ miền Nam, đại biểu các khu, các tỉnh đều tới thăm hỏi. Chị Quyên đành hẹn tôi sau mỗi buổi họp tối ở hội trường về, chị sẽ tranh thủ kể từng đoạn, những lần cuối cùng chị đã gặp anh, đã được sống bên anh trong các trại giam và khám tử hình.
[...]
Vào khoảng chín giờ sáng, bỗng nhiên tôi thấy ập vào nhà bảy tám thằng cảnh sát, giải theo một người bị còng tay ra sau lưng. Thoạt đầu, tôi vẫn chưa tin là anh Trỗi. Nhưng vừa thoảng thấy tôi, anh nói ngay, nói to: “Quyên, anh bị bắt”.
Tôi đứng sững sờ nhìn anh đi thẳng tới trước mặt tôi. Chỉ có qua một đêm, thân hình anh thay đổi hẳn: bộ quần áo xanh của anh bê bết những bùn máu, gần như đổi sang màu khác, mặt anh hốc hác, bầm tím, đầu tóc rối tung. Chúng đẩy anh ngồi xuống giường. [...] Mấy tên cảnh sát đứng quanh giường anh bực tức nhìn nhau. Chúng động đậy chân tay muốn nổi khùng. Riêng tên chủ sự vẫn nhỏ nhẹ:
- Anh nên nghĩ đến người vợ trẻ và đẹp của anh. Anh nên thương cô ấy, đừng nên cưới người ta ít ngày, bây giờ bỏ mặc đời người ta dang dở.
-Từ năm ngày nay tôi bị bắt, các ông luôn luôn mang chuyện tôi mới cưới vợ ra để dụ dỗ. Các ông mang hình vợ chồng tôi chụp hôm cưới vào, tán tỉnh hạnh phúc này nọ, định làm cho tôi cam tâm vì vợ mà quên mất Tổ quốc. Các ông làm việc đó hoàn toàn không có kết quả đâu. Còn thằng Mỹ thì không ai có hạnh phúc nổi cả.
[...]
Tối nay chị Quyên không còn chăm chú kể chuyện với tôi được nữa. Chốc chốc chị lại nhìn đồng hồ. Ở gian nhà bên có tiếng một chị vừa gọi sang: “Quyên ơi, sắp đến giờ rồi đấy!”.
Ra cả mấy dãy nhà quanh đây đều biết đêm qua đài Hà Nội đã báo tin: nay buổi tám giờ rưỡi có truyền thanh toàn bản thuyết minh cuốn phim “Nguyễn Văn Trỗi sống mãi”.
Ngay từ phút đầu, mọi người đã cảm thấy như chính mình đang được xem cuốn phim đó, đang theo chân anh tới pháp trường. Tiếng người thuyết minh lúc tha thiết nghẹn ngào, lúc căm thù tột độ dẫn dắt người nghe qua dần từng cảnh: anh đang nói trước các nhà báo, anh dừng lại nhìn mảnh đất cuối cùng trồng mấy luống rau xanh, anh giật mảnh vải định che mắt anh,...
Chị U., một giáo sư, đã nói thêm một số tài liệu quanh cái chết của anh:
“Tới phút chót của đời anh, những người có mặt tại pháp trường đều rất kinh ngạc. Súng đã nổ rồi, một loạt đạn đã bắn vào ngực anh nhưng từ phía anh vẫn còn vang lên những tiếng hô: “Việt Nam muôn năm!”.
Chinh một số nhà báo đã không cầm nổi nước mắt. Họ không thể tưởng tượng một người trước cái chết lại bình thản đến như vậy, lại yêu mến đất nước mình đến như vậy. Giật băng đen bịt mắt ra, anh nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”. Bao nhiêu năm bị bọn phản động đầu độc “Việt cộng vô Tổ quốc”, một số nhà báo lúc này đã nhìn ra sự thật: Không ai yêu Tổ quốc Việt Nam bằng người cộng sản, họ đã yêu đất nước quê hương cho tới phút cuối cùng của đời họ.”
(Trần Đình Vân[1], Sống như Anh[2], NXB Giáo dục, 1978, tr.25-59)
[1] Trần Đình Vân (1926 – 2024), nhà báo Thái Duy, tên thật là Trần Duy Tấn. Quê Bắc Giang.
[2] Truyện kí “Sống như Anh” được NXB Văn học in lần đầu năm 1965, đã xuất bản hàng triệu bản ở nhiều nước trên thế giới. Truyện viết về cuộc đời ngắn ngủi và oanh liệt của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, được ghi lại qua lời kể của chị Phan Thị Quyên (vợ anh Trỗi).
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học, tập trung phân tích một đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm.
- Xác định và phân biệt yếu tố phi hư cấu và yếu tố hư cấu trong thể loại truyện kí.
- Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng từ đoạn trích để làm rõ tác dụng của sự kết hợp này.
- Đoạn văn cần bảo đảm dung lượng khoảng 200 chữ, có câu chủ đề, triển khai logic và câu kết khái quát.
a. Mở đoạn:
- Nêu vấn đề nghị luận: Sự kết hợp giữa yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong văn bản Sống như Anh đã đem lại tác dụng nghệ thuật rõ rệt.
b. Phần triển khai: Làm rõ tác dụng của sự kết hợp giữa yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong văn bản:
+ Nhờ có sự xuất hiện đồng thời của yếu tố phi hư cấu và hư cấu trong truyện, câu chuyện về anh Nguyễn Văn Trỗi vừa chân thật, gần gũi, sinh động, vừa gợi những liên tưởng, tưởng tượng, tạo ấn tượng riêng cho mỗi người đọc;
+ Cách triển khai truyện kể bằng cách vừa ghi theo lời kể phi hư cấu của người trong cuộc, vừa thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp đa chiều của nhân vật anh Nguyễn Văn Trỗi: vừa đời thường, gần gũi, vừa đẹp đẽ, lung linh, mang tầm vóc anh hùng, rực sáng vẻ đẹp lí tưởng của một thanh niên ưu tú trong thời kì cách mạng;
+ Tác giả Trần Đình Vân đã thể hiện sự yêu mến, thông cảm, xót xa chân thành đối với nhân vật anh Nguyễn Văn Trỗi, càng căm thù bọn giặc đê hèn, tàn ác, càng ngưỡng mộ, tôn vinh, ngợi ca người anh hùng. Sự hoà quyện nhuần nhuyễn giữa yếu tố phi hư cấu và hư cấu giúp người đọc vừa hiểu thêm về lịch sử dân tộc nhờ các chi tiết cụ thể, đích xác về con người và sự kiện lịch sử liên quan đến anh Nguyễn Văn Trỗi, vừa được lôi cuốn, hấp dẫn bởi hình tượng văn học được xây dựng bằng nghệ thuật ngôn từ qua cách kể chuyện, sử dụng ngôn ngữ của tác giả Trần Đình Vân.
c. Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề nghị luận.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trả lời câu hỏi: Người trẻ làm gì để chứng tỏ mình đang sống trong cuộc đời?
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: cách người trẻ khẳng định sự tồn tại và giá trị của bản thân bằng việc sống tích cực, có trách nhiệm và có ích.
- Kết hợp lí lẽ chặt chẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, phù hợp để làm sáng tỏ các luận điểm.
- Bài viết cần bảo đảm bố cục ba phần, lập luận logic, diễn đạt trong sáng, mạch lạc.
a. Mở bài:
- Giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận: Người trẻ đã và đang nỗ lực khẳng định sự tồn tại của bản thân trong cuộc sống, làm nhiều việc để thể hiện ý thức của mình về cuộc sống hiện tại, thể hiện trách nhiệm đối với bản thân và xã hội.
- Vấn đề nghị luận được đặt ra trong một câu hỏi: Người trẻ làm gì để chứng tỏ mình đang sống trong cuộc đời?
b. Thân bài
* Giải thích:
- Người trẻ là người ở độ tuổi thanh niên, đang sống phần tuổi trẻ trong cuộc đời. Về thể chất, người trẻ là những con người phơi phới tuổi thanh xuân, tràn đầy sức sống, cơ thể phát triển mạnh mẽ, sung sức. Về tâm hồn, trí tuệ, người trẻ đang có nhiều cơ hội và khả năng học tập, thông minh, nhạy bén, tràn đầy khát khao, hoài bão. Người trẻ có niềm đam mê, ý chí và sức sáng tạo dồi dào trong công việc.
- Đang sống trong cuộc đời: đang tồn tại, đang nỗ lực cống hiến, được cộng đồng, xã hội ghi nhận kết quả của sự nỗ lực. Chứng tỏ mình đang sống trong cuộc đời là khẳng định sự tồn tại và vị trí của bản thân trong cuộc sống
- Câu hỏi trong đề bài gợi chúng ta suy nghĩ về những việc cần làm để khẳng định bản thân trong xã hội và để được xã hội ghi nhận.
* Phân tích
- Thực hiện tốt các nghĩa vụ của một con người trong xã hội với các “vai” của mình: Trong “vai” cháu, con, em, anh/ chị trong gia đình, biết tri ân, yêu thương, chia sẻ cùng người thân; Trong vai công dân trong xã hội, học sinh trong nhà trường, học trò của thầy cô,..., biết suy nghĩ, hành động, ứng xử đúng đắn, có trách nhiệm với chính mình, với tập thể, cộng đồng. Không né tránh, trốn việc, lừa việc,... trong các hoạt động chung.
- Sống tích cực, duy trì và phát triển mối quan hệ giao tiếp, giao lưu với mọi người, với thế giới. Không tách mình, đặt mình vào thế giới khác cuộc sống hiện thực (trò chơi điện tử, mạng xã hội, thế giới tín ngưỡng cá biệt, các cách sống không bình thường,...) để sống thiết thực, cống hiến thiết thực. Lấy dẫn chứng về những người trẻ sống giản dị, gắn bó với cuộc sống, nhận được thành công, hạnh phúc từ chính cuộc đời bình dị.
- Luôn nỗ lực làm nhiều điều tốt đẹp cho cuộc đời: nêu gương sáng trong gia đình, tập thể; tiên phong, cống hiến cho đất nước, dân tộc. Bắt đầu từ những công việc bình dị: chăm sóc ông bà, cha mẹ; chăm chỉ lao động, học tập; sống tử tế;... đến những việc lớn lao: sẵn sàng tiên phong, xả thân khi nhiệm vụ đòi hỏi, khi đất nước gọi tên..., người trẻ chủ động và tích cực đứng lên hàng đầu thì sẽ được “nhận diện”, sẽ nhận được niềm vui, hạnh phúc từ cuộc đời. Đó cũng là một cách người trẻ chứng tỏ rằng cuộc đời này cần có sự đóng góp của mình. Nêu các dẫn chứng là các tấm gương người trẻ đạt thành tích cao trong học tập, nghiên cứu khoa học, xây dựng xã hội, bảo vệ Tổ quốc,...
* Bình luận, liên hệ.
- Để nổi bật, để chứng minh sự tồn tại của bản thân, người trẻ không nên làm những việc gây sự chú ý một cách tiêu cực, đánh bóng bản thân một cách thô thiển, lệch lạc, thậm chí thiếu văn hoá, phản nhân văn. Nêu dẫn chứng và phê phán một số hành vi khẳng định “cái tôi” của người trẻ một cách sai lầm, vi phạm đạo đức, pháp luật (ví dụ: phát ngôn gây sốc, chụp ảnh phản cảm, biểu diễn trái phép cùng phương tiện giao thông trên đường,...).
- Người viết chia sẻ ngắn gọn suy nghĩ, trải nghiệm của bản thân về các việc đã, đang và sẽ làm để thể hiện việc mình sống đẹp, cống hiến có ý nghĩa cho cuộc đời,... (định hướng rõ ràng về việc học tập và chọn nghề, sống tử tế, nỗ lực khẳng định bản thân bằng thế mạnh của chính mình,...).
c. Kết bài: Chốt lại vấn đề nghị luận





