Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 12 - Đề số 11
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
KHÚC HÁT CỦA DÒNG SÔNG
(Nguyễn Quang Thiều)
Lược đoạn đầu: Vào một đêm mưa trên sông Đáy, “tôi” ra sông thay bè vó cho ông Tường. Hai ông cháu uống rượu và trò chuyện về con đò kì quái thường xuất hiện vào những đêm mưa trên sông Đáy kèm theo tiếng âm i buồn bã mà người làng thường đồn là con đò ma.
Tôi ngồi im lặng nhìn ra dòng sông. Trời tối mịt và mưa tầm tã. Ông Tường cũng ngồi im lặng. Một lát sau ông ngả lưng xuống và nói:
- Lão nghỉ một tí, chủ mày kéo thay lão đến canh ba.
- Ông cứ nghỉ đi - Tôi nói và vặn nhỏ ngọn đèn.
Bỗng gió lùa vào lều làm ngọn đèn phụt tắt. Bóng tối trùm kín. Trong bóng tối mênh mang và tiếng mưa triền miên vỗ trên mặt sông, tôi lại nghĩ đến chiếc đò mà ông Tường kể cho tôi. Tôi co mình trong tấm chăn mỏng. Đâu đấy có tiếng cá quẫy trong dòng nước chảy xiết. Cuối canh hai, tôi nghe thấy có tiếng mái chèo quậy nước và cả tiếng âm i. Và giữa dòng sông chợt hiện lên một con đò. Trời tối lắm, tôi khó nhận ra những vật ở gần nhưng lại nhìn thấy rõ con đò từ xa. Hay câu chuyện của người làng kế ám ảnh trong tâm trí tôi. Một chàng trai chui ra khỏi mui đò. Anh đẹp lắm, vẻ đẹp của một người sông nước. Anh nhìn tôi nhoẻn cười và hỏi.
[...]
- Anh bạn người làng này hả?
- Vâng. Thế anh ở đâu nhỉ? – Tôi hỏi anh và nhìn anh nghi ngờ.
- Sông đâu thì quê tớ đấy. Cậu không tin chứ gì, không quan trọng.
Anh nhoẻn cười nhìn tôi rồi cất giọng khẽ hát. Ôi, tiếng hát lạ lùng làm sao. Tôi quên ngay mọi sự nghi ngờ về anh. Tôi thấy người mình nhẹ bẫng. Chiếc lều vỏ cứ bồng bềnh như trôi qua khỏi bờ. Bất chợt anh ngừng hát, lắc đầu thở dài. Mãi lâu sau tôi mới tỉnh khỏi cơn mê vì giọng hát của anh.
- Anh tên là gì? – Tôi hỏi.
- Tôi tên Chi họ Trương, người đời gọi là Trương Chi.
- Trương Chi, Trương Chi – Tôi cười khẩy – Anh cũng là người hay tếu.
- Cậu không tin thì thôi.
Anh nói buồn buồn và thở dài. Chợt trong tôi vọng về tiếng hát ru của bà tôi thuở xưa. Bà tôi quấn khăn mỏ quạ, suốt ngày nhai trầu hát ru tôi bằng câu hát: “Ngày xưa có anh Trương Chi, người thì thậm xấu hát thì thậm hay”. Khi chúng tôi đã lớn, bà tôi vẫn hát câu hát ấy. Có lần tôi hỏi bà: “Bà yêu anh Trương Chi à?”. Bà tôi mắng yêu: “Tổ bố mày, chứ anh Trương Chi còn đẻ trước bà mấy đời. Ngày xưa cụ kị chúng mày đã hát Trương Chi rồi. Người đâu mà ngoan mà giỏi thế, chi khổ cái là xấu người”.
- Anh nói dối vừa chứ – Tôi cảm thấy khó chịu – Trương Chi, ông ấy chết từ vạn đời nay rồi.
- Đúng thế, chúng nó giết tôi, cắt lưỡi tôi để không hát được nữa. Nhưng chúng quên không móc trái tim tôi. Bởi vậy tôi vẫn còn sống đến bây giờ.
- Nhưng anh còn quá trẻ.
- Cậu hỏi cũng phải đấy. Nhưng chuyện thế này, ngày xưa ông tôi cũng làm nghề chài lưới. Một hôm ông thả lưới vớt cái lọ vàng. Lời đồn đến tai quan. Quan đến đòi thu lại cái lọ. Ông tôi phải nộp cho quan. Quan cầm cái lọ dốc ngược để đổ chút nước sông còn đọng trong lọ ra. Từ trong lọ một con hến trắng rơi xuống cát. Ông tôi nhặt con hến trắng bỏ vào cái chậu sành. Đêm đêm, khi ông tôi đi ngủ thì con hến trắng từ từ mở miệng và hát. Ông tôi thuộc câu hát ấy, truyền lại cho bố tôi. Ai thuộc được câu hát thì trẻ mãi.
- Nhưng người ta bảo anh xấu xí lắm cơ mà?
Nghe tôi hỏi anh cười phá lên. Một lát sau anh chậm rãi nói:
Bọn quan lại ghét tôi nên nói xấu tôi như thế. Tôi sống ở trên sông nên ít người biết mặt. Chúng tuyên truyền
- Tạnh mưa mất rồi. Tôi đi đây, hẹn gặp lại nhé.
Anh nói xong vội vã bơi thuyền ra sông, từ từ biến mất.
Lược phần cuối: Trời tiếp tục mưa. Con đò lại hiện lên và Trương Chi xuất hiện, tiếp tục trò chuyện với “tôi” về cuộc đời mình. Sau khi đi lính, góp nhiều chiến tích đánh bại giặc ngoại xâm, chàng trở về quê, sống bằng nghề chài lưới. Tiếng hát của chàng khiến nàng Mị Nương – con gái quan thừa tướng – ốm tương tư. Theo trát của quan, Trương Chi được gọi vào dinh để hát cho Mị Nương nghe; nhưng chàng không thể hát được trong căn phòng vì thiếu dòng sông. Mị Nương xin cha cho lấy chàng. Quan thừa tướng tức giận, cho người đến gặp, đuổi chàng đi khỏi khúc sông, nhưng chàng không chịu. Chúng giết và băm nát thi thể chàng, vứt xác trôi trên sông. Xác chàng trôi bập bềnh không ai có thể vớt được nên dân làng lập bàn thờ hai bên bờ cho chàng. Mị Nương nghe tin đau buồn mà chết, sau này trên mộ nàng mọc lên loài hoa Quỳnh. Kết thúc câu chuyện, “tôi” chợt tỉnh giấc và có cảm giác như bị cảm lạnh. Mưa đã ngớt và ông Tường đã dậy từ bao giờ.
(Trích Nguyễn Quang Thiều tác phẩm chọn lọc, NXB Phụ nữ, 2011, tr.294-306)
Xác định người kể chuyện trong văn bản.
Vận dụng kiến thức về ngôi kể và người kể chuyện, căn cứ vào đại từ xưng hô và vai trò của người kể trong câu chuyện.
Người kể chuyện là nhân vật “tôi”, người trực tiếp tham gia vào câu chuyện và kể lại những gì mình chứng kiến, trải nghiệm trong cuộc gặp gỡ với Trương Chi.
Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: “Anh đẹp lắm, vẻ đẹp của một người sông nước.”
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ, chú ý cách tác giả bổ sung một thành phần nhằm giải thích, làm rõ cho nội dung được nói trước đó.
- Biện pháp tu từ: chêm xen.
- Thành phần chêm xen: “vẻ đẹp của một người sông nước”, được đặt sau câu “Anh đẹp lắm” nhằm bổ sung, cụ thể hóa vẻ đẹp của nhân vật Trương Chi.
Nêu hiệu quả nghệ thuật của việc lựa chọn điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản.
Vận dụng kiến thức về điểm nhìn trần thuật, chú ý mối quan hệ giữa người kể chuyện, nhân vật và những sự việc được kể.
Hiệu quả nghệ thuật mà việc lựa chọn điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản đem lại:
- Việc lựa chọn điểm nhìn hạn tri trong văn bản tạo cho người đọc cảm giác chân thực và tính trực tiếp như đang chứng kiến các sự việc xảy ra cùng sự quan sát và trải nghiệm của nhân vật “tôi”.
- Người đọc cũng như nhân vật “tôi” không biết hết mọi chuyện, luôn cảm thấy bất ngờ, hứng thú theo dõi điều xảy ra tiếp theo của câu chuyện.
- Lựa chọn điểm nhìn hạn tri của người kể chuyện ngôi thứ nhất giúp nhà văn có thể đi sâu bộc lộ thế giới nội tâm của nhân vật người kể chuyện.
Phân tích tác dụng của chi tiết kì ảo nói về nguyên nhân Trương Chi sống mãi và trẻ mãi.
Vận dụng kĩ năng phân tích chi tiết nghệ thuật, làm rõ giá trị về nghệ thuật và ý nghĩa nội dung, tư tưởng của chi tiết kì ảo.
Gợi ý:
Tác dụng của chi tiết kì ảo nói về nguyên nhân Trương Chi sống mãi và trẻ mãi:
- Chi tiết kì ảo làm tăng tính li kì, hấp dẫn, tạo không gian hư thực cho câu chuyện: Trương Chi bị giết, bị cắt lưỡi nhưng chàng không chết vì vẫn còn trái tim. Không những vậy, chàng còn trẻ mãi vì thuộc được câu hát từ con hến trắng do ông mình truyền lại.
- Chi tiết kì ảo thể hiện ý nghĩa, thông điệp sâu sắc của văn bản: Khẳng định sức sống bất diệt của vẻ đẹp nhân văn và sức mạnh diệu kì của nghệ thuật. Bởi trái tim là biểu tượng cho sự sống; Cũng là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn, tính nhân văn của con người, còn có trái tim là còn bất tử. Câu hát là biểu tượng cho nghệ thuật. Nghệ thuật đem lại sức trẻ, nghệ thuật có sức mạnh nuôi dưỡng tâm hồn con người.
Trình bày cảm nhận của anh/ chị về sự sáng tạo của nhà văn Nguyễn Quang Thiều trong xây dựng nhân vật Trương Chi ở văn bản trên so với tác giả dẫn gian trong truyện cổ.
Vận dụng kĩ năng so sánh, đối chiếu nhân vật văn học, từ đó nhận xét những điểm kế thừa và sáng tạo của nhà văn Nguyễn Quang Thiều.
Gợi ý:
* Điểm kế thừa
- Vẫn giữ những nét cơ bản của hình tượng Trương Chi: người nghệ sĩ có tiếng hát hay, sống gắn bó với sông nước và có mối tình bi kịch với Mị Nương.
- Vẫn giữ mô-típ về cuộc đời bất hạnh của người nghệ sĩ tài hoa.
* Điểm sáng tạo
- Trong truyện của Nguyễn Quang Thiều, Trương Chi không xấu xí về hình thể mà được miêu tả là “đẹp lắm”, mang “vẻ đẹp của một người sông nước”.
- Trương Chi không chỉ là một chàng trai tài hoa, bất hạnh mà còn là người có chiến công đánh giặc, có đời sống và số phận được mở rộng hơn.
- Cái chết của Trương Chi được nhà văn cải biến: chàng bị quan lại giết và băm nát thi thể, thay vì cái chết gắn với bi kịch tình yêu như trong truyện cổ.
- Đặc biệt, nhà văn tạo ra một Trương Chi vẫn sống và trẻ mãi, có thể xuất hiện trong hiện tại để trò chuyện với nhân vật “tôi”.
* Ý nghĩa của sự sáng tạo
- Làm mới một hình tượng văn học dân gian quen thuộc, tạo sự bất ngờ và hấp dẫn cho người đọc.
- Làm cho nhân vật Trương Chi trở nên đa diện, sinh động, vừa mang dấu ấn truyền thống vừa có diện mạo của văn học hiện đại.
- Qua hình tượng Trương Chi, nhà văn khẳng định vẻ đẹp tài năng, tâm hồn và sức sống của nghệ thuật, đồng thời thể hiện niềm tin rằng những giá trị nhân văn chân chính có thể vượt qua sự hủy diệt của thời gian.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích sự sáng tạo của tác giả thể hiện qua hình tượng “gió” trong văn bản sau:
CỞI GIÓ
Một ngày gió nâng tôi lên cao
Tôi nhìn xuống thấy một con kiến bị cầm tù trong hộp thư điện tử nhiều ngăn, trong chiếc điện thoại di động thỉnh thoảng lại đổ chuông
Một ngày gió nâng tôi lên cao
Tôi nhìn xuống thấy một con chim bị cầm tù trong tiếng ngợi ca của bầy đàn, trong những mốc giới hạn mĩ cảm đã được sắp đặt
Một ngày gió nâng tôi lên cao Gió trao tôi đôi cánh
Và bảo tôi hãy cởi gió ra và bay lên trên ý nghĩ.
(Nguyễn Phan Quế Mai, Tạp chí Sông Hương, số 265, tháng 3/2011)
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học, kết hợp các thao tác phân tích, chứng minh, bình luận.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: sự sáng tạo của Nguyễn Phan Quế Mai trong việc xây dựng hình tượng “gió”.
- Bám sát các chi tiết trong văn bản, phân tích hình tượng trên cả phương diện nghệ thuật và ý nghĩa biểu tượng.
- Đoạn văn cần bảo đảm dung lượng khoảng 200 chữ, có câu mở đoạn, triển khai và kết đoạn mạch lạc.
a. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Sự sáng tạo của tác giả thể hiện qua hình tượng “gió” trong văn bản.
b. Thân đoạn: Làm rõ vấn đề nghị luận
- Sự sáng tạo trong cách xây dựng hình tượng, sử dụng ngôn từ: nhân cách hoá, hữu hình hoá ngọn gió thông qua trí tưởng tượng bay bổng, độc đáo.
- Sự sáng tạo trong ý tưởng, nội dung biểu đạt: Gió trở thành người bạn nâng đỡ “tôi” vượt lên hiện thực để quan sát cuộc sống một cách toàn diện, thức nhận về sự tù túng của con người trong thế giới vật chất, trong những ảo tưởng bởi sự bủa vây của ngợi khen, ca tụng, trong những thói quen đến mòn đi của cảm nhận, suy nghĩ,...; Gió trao cho “tôi” đôi cánh, khích lệ “tôi” dám vượt thoát bứt phá từ những gì mình đã được nâng đỡ, trao nhận, học tập,... để tự tạo ra “đôi cánh” của bản thân.
- Tác dụng của sự sáng tạo hình tượng “gió” trong văn bản: Khơi gợi ở người đọc những khát vọng đẹp đẽ: khát vọng vượt thoát khỏi những “quán tính” của hành động, cảm xúc, suy nghĩ, dám bứt phá bằng nội lực của tư duy,...; Tạo nên sự độc đáo, hấp dẫn cho văn bản.
c. Kết đoạn: Khẳng định lại vẻ đẹp độc đáo và ý nghĩa sâu sắc của hình tượng “gió” qua sự sáng tạo của nhà thơ.
Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành một xu thế tất yếu và là một lợi thế không thể phủ nhận của con người trong xã hội hiện đại. Tuy vậy, có ý kiến cho rằng, nếu không sử dụng AI đúng cách, thế hệ trẻ không những không đồng hành với bước tiến của nhân loại mà thậm chí còn “đi lùi” trong việc tạo ra giá trị cho bản thân. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày quan điểm của anh/ chị về vấn đề sử dụng AI và việc phát triển giá trị của bản thân.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: sử dụng AI như thế nào để vừa tận dụng được lợi ích của công nghệ vừa phát triển giá trị của bản thân.
- Kết hợp lí lẽ chặt chẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, phù hợp với thực tế đời sống.
- Bài viết cần bảo đảm bố cục ba phần, lập luận logic, diễn đạt trong sáng, mạch lạc.
a. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Sử dụng AI và việc phát triển giá trị của bản thân.
b. Thân bài
b1. Giải thích:
- AI (tiếng Anh: Artifical Intelligence) hay trí tuệ nhân tạo chính là trí thông minh được thể hiện bằng máy móc, phân biệt với trí thông minh nhiên của con người. Các ứng dụng trí tuệ nhân tạo rất phong phú, đa dạng và có thể phục vụ, hỗ trợ cho hầu hết các lĩnh vực trong đời sống của con người. Ví dụ: ChatGPT, Google Assistant,...
- Giá trị của bản thân: là những yếu tố mặt thể chất và tinh thần của mỗi người được đánh giá tích cực như sức khoẻ, trí tuệ, năng lực, phẩm chất,...;
“Phát triển giá trị của bản thân” là làm cho những yếu tố đó được phát huy, tăng cường.
- Nêu quan điểm của bản thân:
b2. Sử dụng lí lẽ, bằng chứng để phân tích, chứng minh bảo vệ quan điểm đã nêu
- Sử dụng AI đem lại cơ hội phát triển giá trị bản thân rất lớn: AI hỗ trợ học tập, công việc mọi mặt thông qua các ứng dụng tìm kiếm thông tin; xử lí dữ liệu; quản lí, sắp xếp kế hoạch; Giúp tiết kiệm thời gian, công sức; tạo hứng thú,...
+ Trong một xã hội thông tin và công nghệ phát triển với tốc độ chóng mặt, con người không thể thiếu các công cụ hỗ trợ để xử lí công việc. Việc sử dụng AI cũng giống như bất kì sản phẩm, thành tựu nào của cuộc cách mạng số nằm trong xu thế tất yếu của thời đại.
+ Không biết khai thác thế mạnh của các sản phẩm này, mỗi cá nhân không thể hoà nhịp được với dòng chảy của thời đại và bị tụt lại phía sau.
+ Tiềm năng hỗ trợ của AI ngày càng được khai thác tối đa trong mọi lĩnh vực của đời sống.
- Tuy vậy, sử dụng AI sai cách đem đến nhiều hệ luỵ:
+ Sử dụng AI vào những mục đích không chính đáng trong học tập sẽ tạo nên những thành tích “ảo” và đánh mất cơ hội học tập thực sự; Phụ thuộc vào AI để đổi lấy sự tiện nghi, dễ dãi sẽ khiến con người trở nên lười biếng, ỷ lại về tư duy, lâu dần sẽ trở nên thụ động, mất dần đi khả năng tự học hỏi, phân tích, sáng tạo, từ đó sẽ trở nên kém linh hoạt hơn trong việc xử lí các tình huống thực tế, do vậy không phát triển; Sử dụng AI để thực hiện, hỗ trợ những hành vi không tốt đẹp sẽ khiến con người lún sâu hơn vào con đường phạm pháp, thậm chí tội ác.
+ AI có thể hỗ trợ và làm thay con người rất nhiều thao tác, nhưng con người vượt xa AI bởi cảm xúc, vì thế chỉ con người mới có thể nhìn, nghe, cảm nhận rõ nhất những thay đổi trong cuộc sống. Phụ thuộc quá nhiều hoặc sử dụng AI với mục đích không chân chính sẽ kéo lùi sự phát triển và làm mất đi bản tính nhân văn của con người. b3. Bình luận, liên hệ
- Cần có quan điểm và cách thức sử dụng AI đúng đắn:
+ Cần coi AI như một công cụ để hỗ trợ quá trình phát triển bản thân chứ không phải “người” làm thay, làm hộ, đặc biệt “tư duy” hộ;
+ Sử dụng AI đúng lúc, đúng chỗ và đúng mức độ.
- Luôn sống có lí tưởng, có mục đích; lấy thước đo là sự tiến bộ của bản thân qua việc không ngừng học hỏi, trau dồi các kĩ năng cũng như hướng đến bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách của bản thân.
c. Kết bài:
Khẳng định ý nghĩa của việc biết khai thác AI đúng cách để phát triển và hoàn thiện bản thân.





