Đề thi học kì 2 Ngữ văn 6 PGD&ĐT huyện Hưng Hà (2023-2024)
FlashcardsHọc Flashcards
Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Tốc độĐấu trường tốc độ
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Phần I. Đọc hiểu
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
THẬN TRỌNG VỚI THỰC PHẨM BÁN TRƯỚC CỔNG TRƯỜNG
(1) Thực phẩm không an toàn đang đe dọa đến sức khoẻ của mọi người dân. Nó xuất hiện ở nhiều nơi, thậm chí là trường học – nơi được xem là môi trường an toàn của trẻ. Các loại đồ ăn vặt có chất lượng kém, không rõ nguồn gốc xuất xứ, không an toàn,…đang là mối nguy hại tới sức khoẻ của học sinh.
(2) Tuy nhiên, nhiều phụ huynh vẫn cho tiền để trẻ mua quà vặt, nước uống trước cổng trường. Điều này tiềm ẩn nguy cơ đến sức khoẻ của trẻ. Những thức ăn đường phố bày bán ở nhiệt độ bình thường, môi trường nhiều bụi, không được che đậy cẩn thận nên rất dễ bị nhiễm khuẩn. Do điều kiện thiếu nước, các dụng cụ đựng và chế biến không được rửa sạch và thường bị ô nhiễm vi khuẩn gây bệnh. Mặt khác người chế biến thức ăn đường phố vì chạy theo lợi nhuận nên có thể mua các thực phẩm đầu vào không rõ nguồn gốc, không đảm bảo vệ sinh, sử dụng phẩm màu công nghiệp, đường hoá học trong chế biến thức ăn, đồ uống….
(3) Để hạn chế việc học sinh sử dụng đồ ăn vặt, các gia đình và nhà trường cần có sự phối hợp chặt chẽ để giải quyết. Các bậc phụ huynh nên hạn chế việc để con em mình sử dụng đồ ăn vặt không rõ nguồn gốc, bày bán trước cổng trường. Thay vào đó, chuẩn bị bữa ăn cho con ở nhà, chọn những loại thực phẩm có nhãn mác, được quản lý theo tiêu chuẩn chất lượng, thương hiệu rõ ràng. Về phía nhà trường, cần có công tác quản lý học sinh, tuyên truyền để giúp các em tự ý thức bảo vệ sức khoẻ của mình. Các bậc phụ huynh nên quan tâm, nhắc nhở, hướng dẫn con em chọn mua những sản phẩm chất lượng, tránh xa các loại bánh kẹo, thực phẩm không bảo đảm an toàn vệ sinh. Mỗi người nên nói “không” với hàng rong không được che đậy, quán vỉa hè ẩm thấp, bụi bặm, gần cống rãnh, thiếu nước sạch.
(Nguồn https://nhandan.vn/than-trong-voi-thuc-pham-ban-truoc-cong-truong, ngày 27/09/2020)
Văn bản trên được viết theo thể loại nào?
Dựa vào đặc điểm nội dung và mục đích cung cấp thông tin của văn bản để xác định thể loại.
Văn bản cung cấp thông tin về thực phẩm không an toàn trước cổng trường, đồng thời nêu nguyên nhân, nguy cơ và cách phòng tránh
Câu văn nào nêu đúng vấn đề chính của văn bản?
Xác định nhan đề và nội dung được triển khai xuyên suốt văn bản để tìm vấn đề chính.
Toàn văn bản tập trung cảnh báo và đưa ra lời khuyên về việc sử dụng thực phẩm bán trước cổng trường.
Từ nào sau đây không phải là từ ghép?
Xác định mối quan hệ về nghĩa giữa các tiếng cấu tạo nên từ.
“Rõ ràng” gồm hai tiếng có quan hệ láy âm, không phải từ ghép.
Câu văn sau có vai trò gì trong văn bản trên?
Để hạn chế việc học sinh sử dụng đồ ăn vặt, các gia đình và nhà trường cần có sự phối hợp chặt chẽ để giải quyết.
Xác định chức năng của câu văn trong việc thể hiện quan điểm của người viết.
Câu văn đưa ra quan điểm, đề xuất của tác giả về sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường để hạn chế học sinh sử dụng đồ ăn vặt không an toàn.
Nội dung chính của đoạn văn (1) là:
Khái quát nội dung được triển khai trong đoạn văn (1).
Đoạn (1) nêu thực trạng thực phẩm không an toàn và giới thiệu vấn đề sẽ được đề cập trong văn bản.
Câu nào sau đây không chứa từ Hán Việt?
Xác định các từ Hán Việt xuất hiện trong từng câu.
Câu C chủ yếu sử dụng các từ thuần Việt như “mỗi”, “người”, “nói”, “hàng rong”, “che đậy”, không có từ Hán Việt tiêu biểu.
Trong câu sau đâu là thành phần trạng ngữ?
Do điều kiện thiếu nước, các dụng cụ đựng và chế biến không được rửa sạch và thường bị ô nhiễm vi khuẩn gây bệnh.
Xác định bộ phận bổ sung hoàn cảnh, nguyên nhân cho sự việc được nói đến trong câu.
“Do điều kiện thiếu nước” cho biết nguyên nhân khiến các dụng cụ đựng và chế biến không được rửa sạch.
Câu văn nào sau đây nêu bật nguy cơ mất an toàn thực phẩm?
Đọc các phương án và xác định câu trực tiếp nêu nguy cơ đối với sức khỏe do thực phẩm không an toàn gây ra.
Câu “Thực phẩm không an toàn đang đe dọa đến sức khoẻ của mọi người dân” trực tiếp nêu bật nguy cơ mất an toàn thực phẩm.
Qua văn bản trên em rút ra cho mình bài học gì?
Khái quát thông điệp của văn bản và liên hệ với hành động của bản thân.
Qua văn bản em rút ra cho mình bài học:
- Cần tránh xa những thực phẩm không an toàn.
- Không ăn đồ ăn vặt không rõ nguồn gốc, xuất xứ.
- Cần tuyên truyền, nhắc nhở mọi người cảnh giác với thực phẩm không an toàn.
…
Nếu là một chuyên gia y tế về sức khoẻ, em sẽ đưa ra những lời khuyên gì để giúp mọi người hiểu và phòng tránh được những nguy cơ tiềm ẩn về mất an toàn thực phẩm?
Dựa vào những nguy cơ mất an toàn thực phẩm được nêu trong văn bản để đưa ra các biện pháp phòng tránh thiết thực.
Gợi ý:
- Chọn thực phẩm tươi sạch.
- Rửa sạch tay bằng nước sạch trước khi cầm vào thực phẩm.
- Sử dụng đồ dùng nấu nướng và ăn uống sạch sẽ.
- Che đậy, bảo quản cẩn thận thức ăn sau khi nấu chín.
- Ăn thức ăn đã được nấu chín.
…
Phần II. Viết
Những tiết học thú vị luôn để lại trong em những ấn tượng khó phai. Hãy viết bài văn tả lại một tiết học mà em ấn tượng nhất.
- Mở bài: Giới thiệu cảnh được tả.
- Thân bài: Miêu tả chi tiết cảnh sinh hoạt theo trình tự không gian, thời gian.
+ Đó là cảnh sinh hoạt nào? Xảy ra khi nào? Ở đâu?
+ Sinh hoạt đó diễn ra trong khung cảnh không gian thế nào?
+ Các hoạt động của thầy và trò diễn ra như thế nào?
+ Thời gian, không gian, đối tượng cần miêu tả?
+ Cảm xúc của em khi chứng kiến, tham gia hoạt động đó.
+ Rút ra được ý nghĩa của hoạt động đó đối với bản thân.
- Kết bài: Cảm nghĩ về cảnh sinh hoạt đã tả và ý nghĩa của quang cảnh đó.
Buổi sáng, nắng vàng nhẹ nhàng len qua những tán cây trước sân trường, tiếng chim ríu rít hòa cùng tiếng nói cười của học sinh tạo nên một khung cảnh thật tươi vui. Giữa những giờ học quen thuộc, em vẫn nhớ nhất một tiết Tiếng Việt vào đầu năm lớp Năm. Đó là giờ học cô giáo đã giúp em vượt qua sự rụt rè và khiến em nhận ra rằng mỗi lời động viên chân thành đều có thể tiếp thêm sức mạnh cho người khác.
Tiếng trống báo hiệu tiết học vang lên, các bạn nhanh chóng trở về chỗ ngồi. Em lấy sách, vở và bút đặt ngay ngắn trên bàn rồi hồi hộp chờ cô giáo bước vào. Khi cô xuất hiện ở cửa lớp với nụ cười hiền, cả lớp đứng dậy chào cô. Sau khi kiểm tra bài cũ, cô giới thiệu bài học mới và viết những dòng chữ ngay ngắn lên bảng. Ánh nắng từ cửa sổ rọi xuống khiến những hạt bụi nhỏ lấp lánh trong không khí. Không gian lớp học dần trở nên yên tĩnh, chỉ còn tiếng cô giảng bài và tiếng bút chạy trên trang vở
Đến phần thảo luận, cô đưa ra một câu hỏi yêu cầu chúng em trình bày suy nghĩ về nhân vật trong bài đọc. Các bạn lần lượt giơ tay, còn em cứ ngồi im vì sợ mình nói sai. Cô nhìn về phía em rồi nhẹ nhàng hỏi em có suy nghĩ gì. Em đứng lên, giọng còn nhỏ và hơi run. Khi em nói xong, cô mỉm cười và động viên rằng mỗi suy nghĩ chân thành đều đáng được lắng nghe. Cô còn giúp em bổ sung một vài ý để câu trả lời đầy đủ hơn. Lời cô giản dị nhưng khiến em cảm thấy tự tin. Em mạnh dạn nói rõ suy nghĩ của mình và nhận được sự hưởng ứng của các bạn. Khoảnh khắc ấy khiến em vui đến mức đôi má nóng bừng.
Cuối giờ, cô nhận xét cả lớp và nhắc chúng em luôn chủ động suy nghĩ, không nên sợ mắc lỗi khi học tập. Tiếng trống báo hiệu hết tiết vang lên, các bạn bắt đầu thu dọn sách vở nhưng em vẫn ngồi lại vài giây. Em nhìn những dòng chữ trên bảng rồi nhớ đến lời cô. Nhờ giờ học ấy, em hiểu rằng kiến thức không chỉ đến từ sách vở mà còn đến từ sự tự tin, lòng kiên trì và những lời động viên đúng lúc. Từ hôm đó, em cố gắng giơ tay phát biểu nhiều hơn và không còn quá sợ những câu trả lời chưa hoàn hảo.
Thời gian có thể làm nhiều giờ học trôi qua, nhưng có những tiết học vẫn ở lại trong kí ức như một trang vở được viết bằng những nét mực đặc biệt. Với em, giờ Tiếng Việt hôm ấy chính là một trang vở như thế. Em luôn biết ơn cô vì đã giúp em nhận ra khả năng của mình và mong rằng mình sẽ luôn giữ được sự tự tin, ham học để mỗi ngày đến trường đều là một ngày có ý nghĩa.





