Đề tham khảo thi giữa học kì 1 Văn 12 - Đề số 15
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(Tóm tắt đoạn trước: Sau khi từ Sài Gòn trở về vì đau tim, Thứ bị thất nghiệp. Đích, anh họ Thứ, chung vốn với Oanh, vợ chưa cưới của Đích, mở một trường tư ở ngoại ô Hà Nội. Do được bổ đi làm ở xa, Đích mượn Thứ đứng chân hiệu trưởng và mời dạy mấy lớp trên. Ban đâu, Thứ rất hào hứng, tận tâm nhưng chỉ ít lâu, anh chán nghề... Bao nhiêu tiền thu được đều vào túi Oanh. Oanh không những bóc lột sức lao động của Thứ và San (một giáo viên của trường, dạy các lớp dưới) mà khi nấu cơm cho họ, Oanh còn bắt họ ăn uống quá kham khổ. Nhiều lần Thứ định nói chuyện dứt khoát với Oanh để giải thoát cho mình và tổ chức lại cái trường cho tử tế. Nhưng bản tính nhút nhát, do dự, sợ va chạm nên Thứ cứ ngần ngại, để tình trạng nặng nề kéo dài. Cuộc sống chung dụng ngày càng không chịu nổi vì thơi keo bẩn, thớ lợ của Oanh. Thứ bực và buồn lắm vì thấy rằng sống với người nhỏ nhen thì mình cũng thành nhỏ nhen[1].).
(1) Thứ không đáp. Y ngẫm nghĩ. Mặt y hầm hầm và đôi môi y chụm lại. Rồi y hăn học bảo:
– Kiếp chúng mình, tức lạ. Sao mà cải đời nó tù túng, nó chật hẹp, nó bần tiện thế! Không bao giờ dám nhìn cao một tí. Chỉ những lo ăn, lo mặc. Hình như tất cả nguyện vọng, tất cả mong ước, tất cả mục đích của đời chúng mình, chỉ là mỗi ngày hai bữa. Bao nhiều tài trí, sức lực lo tính đều chỉ dùng vào việc ấy. Khổ sở cũng vì thế, nhục nhã cũng vì thế, mỏi mòn tài năng, trí óc, giết chết những mong muốn đẹp, những hi vọng cao xa cũng vì thế nốt. Lúc nào cũng lo chết đói. Lúc nào cũng làm thế nào cho không chết đói! Như vậy thì sống làm gì cho cực?
(2) Thứ vẫn không thể nào chịu được rằng sống chỉ làm thế nào cho mình và vợ con có cơm ăn, áo mặc thôi. Sống là để làm một cái gì đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều. Mỗi người sống, phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ những khả năng của loài người chứa đựng ở trong mình. Phải gom sức lực của mình vào công cuộc tiến bộ chung. Mỗi người chết đi, phải để lại một chút gì cho nhân loại. Có thú vị gì là cái lối sống co quắp vào mình, cái lối sống quá ư loài vật, chẳng còn biết một việc gì ngoài cái việc kiếm thức ăn đổ vào cái dạ dày. Có ai muốn gục mặt xuống làm gì? Đau đớn thay cho những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất. Hỡi ôi! Người ta đã phí bao nhiêu tâm huyết, bao nhiêu công lao để giải thoát loài người. Giê-su (Jesus) đã phải đồ máu ra. Thích Ca đã phải từ bỏ tất cả những phú quý vinh hoa của đời mình. Vô ích cả, chừng nào nhân loại chưa thoát khỏi những xiềng xích của cái đói và cái rét. Thứ thường có những lúc sực nhớ đến những cao vọng của mình xưa, ngán ngẩm buồn, tiếc cho mình. Y cứ đinh ninh rằng giá y không bị nghèo thì có lẽ y không đến nỗi đớn hèn thế này đâu. Có lẽ y sẽ làm được một cái gì. Biết bao nhiêu tài năng không nảy nở được, chỉ vì không gặp được một cái hoàn cảnh tốt!...
(Nam Cao, Sống mòn, in trong Tuyển tập Nam Cao, tập 2,NXB Văn học, Hà Nội, 2005,
tr. 259 – 260)
Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích trên.
Vận dụng kiến thức về ngôi kể trong truyện, căn cứ vào người kể chuyện và cách gọi tên nhân vật.
Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ 3
Trong đoạn (1), theo nhân vật Thứ, “kiếp chúng mình” có đặc điểm gì?
Vận dụng kĩ năng đọc hiểu và khái quát nội dung, tìm các từ ngữ, chi tiết trực tiếp miêu tả “kiếp chúng mình” trong đoạn (1).
Trong đoạn (1), theo nhân vật Thứ, “kiếp chúng mình” là những người phải sống cuộc đời tù túng, chật hẹp, bần tiện, không quan tâm được đến những điều cao quý mà chỉ quanh quẩn lo ăn, lo mặc, đặc biệt là lo hai bữa ăn mỗi ngày; họ sống khổ sở, nhục nhã, không phát triển được tài năng, trí óc của bản thân, chỉ sợ chết đói.
Nêu tác dụng của những câu hỏi tu từ có trong đoạn trích trên.
- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ câu hỏi tu từ, phân tích tác dụng trên các phương diện: hình thức, nội dung và cảm xúc.
- Đoạn trích có các câu hỏi tu từ sau:
+ Như vậy thì sống làm gì cho cực?
+ Có ai muốn gục mặt xuống làm gì?
- Tác dụng:
+ Tạo giọng điệu day dứt, trăn trở, đau đớn, thể hiện tâm trạng bế tắc của Thứ trước cuộc sống nghèo khổ.
+ Nhấn mạnh sự mâu thuẫn giữa khát vọng sống cao đẹp của con người với thực tế cơm áo nặng nề.
+ Làm cho lời độc thoại của nhân vật trở nên sâu sắc, giàu sức ám ảnh, đồng thời tăng sức biểu cảm cho đoạn trích.
Nhân vật Thứ trong đoạn trích là người như thế nào? Qua nhân vật, nhà văn muốn thể hiện tư tưởng gì?
- Vận dụng kĩ năng phân tích nhân vật, căn cứ vào lời nói, suy nghĩ, tâm trạng và hoàn cảnh của nhân vật để khái quát đặc điểm.
- Từ số phận và phẩm chất nhân vật, xác định tư tưởng, tình cảm của nhà văn.
- Thứ là người tri thức có nhiều suy nghĩ tích cực, tiến bộ nhưng bị cái nghèo cái khổ làm cho phải sống cuộc sống cơ cực, đớn hèn.Thứ muốn làm nhiều điều tốt đẹp nhưng bị cuộc sống nghèo đói rơi vào bi kịch. Tuy nhiên, nhân vật vẫn luôn khao khát được vươn lên với cuộc sống tốt đẹp hơn.
- Qua đây, tác giả muốn thể hiện sự thấu hiểu, đồng cảm, chia sẻ với nhân vật; nêu lên bi kịch của người tri thức trong xã hội cũ.
Anh/ Chị có đồng tình với quan điểm “Biết bao nhiêu tài năng không nảy nở được, chỉ vì không gặp được một cái hoàn cảnh tốt!” không? Vì sao? Trả lời trong khoảng 7 – 10 dòng.
- Vận dụng kĩ năng bày tỏ quan điểm về một vấn đề, kết hợp giải thích, phân tích và liên hệ thực tế.
- Có thể đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần nhưng cần lí giải hợp lí, thuyết phục.
Gợi ý: Có thể lựa chọn quan điểm đồng tình một phần:
- Hoàn cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tài năng. Một môi trường thuận lợi về điều kiện vật chất, giáo dục và sự khích lệ sẽ giúp con người có cơ hội phát huy năng lực.
- Tuy nhiên, hoàn cảnh không phải yếu tố quyết định duy nhất.
- Nhiều người đã vượt qua nghịch cảnh bằng ý chí, nghị lực và sự kiên trì để khẳng định tài năng.
- Vì vậy, mỗi người cần biết tận dụng điều kiện thuận lợi nhưng quan trọng hơn là chủ động vượt lên hoàn cảnh, không lấy hoàn cảnh làm lí do cho sự đầu hàng.
- Đồng thời, xã hội cần tạo ra môi trường công bằng, nhân văn để tài năng có cơ hội được phát hiện và phát triển.
II. VIẾT
Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về vấn đề: Tuổi trẻ và lòng nhân ái.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: vai trò và biểu hiện của lòng nhân ái ở tuổi trẻ.
- Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực để làm sáng tỏ vấn đề.
- Đoạn văn cần bảo đảm dung lượng khoảng 200 chữ, có câu chủ đề, lập luận mạch lạc và liên kết chặt chẽ.
a) Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề: Tuổi trẻ và lòng nhân ái và khẳng định tuổi trẻ cần biết sống nhân ái.
b) Thân đoạn:
b.1. Giải thích
- Tuổi trẻ là giai đoạn giàu năng lượng, khát vọng và có khả năng tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
- Lòng nhân ái là tình yêu thương, sự đồng cảm, biết quan tâm và sẵn sàng chia sẻ với người khác.
b.2. Bàn luận
– Phân tích và ca ngợi, biểu dương lối sống, phẩm chất nhân ái ở những người trẻ tuổi.
– Tác dụng của lối sống, phẩm chất nhân ái ở những người trẻ tuổi?
– Phê phán lối sống thiếu nhân ái, bao dung,...
Trong khi bình luận cần nêu lên các bằng chứng minh họa cho lí lẽ.
b.3. Liên hệ bản thân và rút ra bài học
– Những biểu hiện của lối sống, phẩm chất nhân ái ở bản thân anh / chị?
– Làm thế nào để tuổi trẻ ngày càng sống nhân ái hơn?
c) Kết đoạn: Khẳng định lại sự cần thiết của lối sống, phẩm chất nhân ái ở người
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của văn bản thơ sau:
ÁO TRẮNG
Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng.
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.
Em đẹp bàn tay ngón ngón thon;
Em duyên đôi má nắng hoe tròn.
Em lùa gió biếc vào trong tóc
Thối lại phòng anh cả núi non.
Em nói anh nghe tiếng lẫn lời;
Hồn em anh thở ở trong hơi.
Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài.
Đôi lứa thần tiên suốt một ngày.
Em ban hạnh phúc chứa đầy tay.
Dịu dàng áo trắng trong như suối
Toa phất đôi hồn cánh mộng bay.
(Huy Cận, Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh – Hoài Chân), NXB Văn học, Hà Nội, 1988,
tr. 137 – 138)
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học, tập trung phân tích và đánh giá hình thức nghệ thuật của bài thơ.
- Xác định các yếu tố nghệ thuật nổi bật như thể thơ, hình ảnh, ngôn ngữ, biện pháp tu từ, cách tổ chức câu thơ và những yếu tố tượng trưng, siêu thực.
- Kết hợp phân tích dẫn chứng với nhận xét, đánh giá, làm rõ mối quan hệ giữa hình thức nghệ thuật và việc thể hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả.
- Bài viết bảo đảm bố cục ba phần, lập luận logic, dẫn chứng chính xác, diễn đạt trong sáng.
a) Mở bài:
– Giới thiệu tác giả Huy Cận và bài thơ Áo trắng.
– Bài thơ thể hiện những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật: hình ảnh, ngôn từ, biện pháp nghệ thuật, yếu tố tượng trưng.
b) Thân bài:
b.1. Các yếu tố hình thức nghệ thuật đặc sắc được thể hiện trong bài thơ là gì?
– Hình ảnh thơ đẹp, mang màu sắc lãng mạn (Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng, đôi má nắng hoe tròn, Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,...).
– Ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm (mộng trắng trong, ngón ngón thon, Đôi lứa thần tiên, Dịu dàng áo trắng...).
– Các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa (Nắng thơ dệt sáng trên tà áo, Lá nhỏ mừng vui, áo trắng trong như suối), thay đổi trật tự từ và chuyển hóa chức năng của từ (Dịu dàng áo trắng trong như suối, Em đẹp bàn tay ngón ngón thon, Em duyên đôi má nắng hoe tròn) làm cho hình ảnh “em” hiện lên đẹp hơn, lung linh và hấp dẫn hơn.
– Các yếu tố tượng trưng, siêu thực thể hiện qua hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng (áo trắng), những hình ảnh phản ánh hiện thực của giấc mơ, của tâm hồn không dễ tri nhận bằng các giác quan thông thường (mộng trắng trong, Hôm xưa em đến, mắt như lòng; Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng; Hồn em anh thở ở trong hơi; Toa phất đôi hồn cánh mộng bay) và thủ pháp chuyển đổi cảm giác (Em lùa gió biếc vào trong tóc / Thổi lại phòng anh cả núi non; Em ban hạnh phúc chứa đầy tay). Những yếu tố này đã tạo nên một thế giới nghệ thuật vừa thực vừa hư, vừa hiện hữu trước mắt vừa như đang mơ. Theo đó, hình tượng thơ (em) hiện ra thật gần gũi nhưng cũng lại huyền ảo sương khói, xa xôi.
b.2. Các yếu tố hình thức nghệ thuật ấy có vai trò, tác dụng thế nào?
– Giúp tác giả diễn tả được những cung bậc tình cảm, cảm xúc vừa hiện thực, vừa lãng mạn, vừa có thể vừa không thể tri nhận rõ ràng,...
– Gây ấn tượng và đem lại những cảm nhận mới mẻ cho người đọc, góp phần tạo nên tính hấp dẫn của thi phẩm.
– Góp phần đổi mới, hiện đại hóa thơ ca.
Lưu ý: Đây là bài thơ có yếu tố tượng trưng, siêu thực nên người viết cần chỉ ra và phân tích, đánh giá biểu hiện của yếu tố này trong tác phẩm.
c) Kết bài:
– Bài thơ cho thấy những nét mới mẻ về hình thức nghệ thuật, chứa đựng yếu tố tượng trưng, siêu thực và có tác dụng tốt trong việc thể hiện nội dung trữ tình.
– Bài thơ thể hiện xu hướng cách tân, đổi mới của các nhà thơ mới nói chung và Huy Cận nói riêng.





