Đề tham khảo thi giữa học kì 1 Văn 12 - Đề số 14
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
(1) chúng tôi qua cái khắc nghiệt mùa khô
qua mùa mưa mùa mưa dai dẳng
võng mắc cột tràm đêm ướt sũn
xuống vượt sông dưới pháo sáng nhạt nhòa
đôi lúc ngẩn người một ráng đỏ chiều xa
quên đời mình thêm tuổi
chân dép lốp đạp mòn trăm ngọn núi
mà không hề rợp bóng xuống tương lai
(2) những trận đánh ập về đầy trí nhớ
pháo chụp nổ ngang trời tưng bừng khói
nhịp tim dập dồn lần xuất kích đầu tiên
bình tông cạn khô trên nóc hầm nồng khét
những vỏ đồ hộp lăn lóc
cái im lặng ù tai giữa hai đợt bom
một tiếng gà bất chợt
bên bờ kênh hoang tàn
(3) thế hệ chúng tôi không sống bằng kỉ niệm
không dựa dẫm những hào quang có sẵn
lòng vô tư như gió chướng trong lành
như sắc trời ngày nắng tự nhiên xanh
(Thanh Thảo, Một người lính nói về thế hệ mình, dẫn theo thivien.net)
Chỉ ra những đặc điểm hình thức của đoạn trích trên.
Vận dụng kiến thức về đặc điểm hình thức của thơ hiện đại, chú ý thể thơ, cách trình bày văn bản và các phương tiện nghệ thuật.
Những đặc điểm hình thức của đoạn trích thơ:
– Sử dụng thể thơ tự do (số chữ trong các dòng thơ và cách ngắt nhịp khác nhau, nhiều vần,...).
– Các chữ đầu dòng không viết hoa.
– Sử dụng nhiều biện pháp tu từ.
Nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên là ai?
Vận dụng kiến thức về nhân vật trữ tình, căn cứ vào đại từ xưng hô và đối tượng được bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ trong bài thơ.
Nhân vật trữ tình là “chúng tôi” – những người lính thuộc một thế hệ đã trải qua chiến tranh.
Nêu tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn (1).
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ và kĩ năng phân tích tác dụng theo ba phương diện: hình thức, nội dung, cảm xúc.
Đoạn (1) có các biện pháp tu từ sau: điệp từ (mùa mưa), tương phản (mùa khô – mùa mưa), nói quá (chân dép lốp đạp mòn trăm ngọn núi), ẩn dụ (rợp bóng xuống tương lai)...
HS nêu đúng giá trị gợi hình, gợi cảm của biện pháp tu từ đã chọn.
“thế hệ chúng tôi” được nói đến ở đoạn (3) có đặc điểm gì?
Vận dụng kĩ năng đọc hiểu, khái quát nội dung từ các từ ngữ, hình ảnh trực tiếp miêu tả đặc điểm của “thế hệ chúng tôi”.
“thế hệ chúng tôi” được nói đến ở đoạn (3) là những người không chìm đắm vào quá khứ mà quên đi hiện tại; không dựa dẫm, ý lại vào những vinh quang mà các thế hệ đi trước đã tạo dựng nên; sống vô tư, hồn nhiên,...
Điều tâm đắc nhất mà anh / chị rút ra được về quan điểm sống sau khi đọc đoạn trích trên là gì? Trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng.
- Vận dụng kĩ năng rút ra thông điệp/quan điểm sống từ văn bản và liên hệ với bản thân.
- Lựa chọn một thông điệp tiêu biểu, lí giải ngắn gọn, chân thành, thuyết phục.
Gợi ý: Có thể lựa chọn quan điểm: Không nên sống dựa dẫm vào quá khứ hay thành quả của người khác mà cần chủ động tạo dựng giá trị cho chính mình.
- Mỗi người cần trân trọng những thành quả mà thế hệ trước đã tạo dựng nhưng không nên lấy đó làm lí do để bằng lòng, ỷ lại.
- Tuổi trẻ cần sống chủ động, tích cực học tập, rèn luyện và cống hiến.
- Những nỗ lực ở hiện tại chính là cách để mỗi người tiếp nối và làm giàu thêm những giá trị tốt đẹp của thế hệ trước.
II. VIẾT
Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật “bà cô tôi” trong đoạn trích sau:
Một đại gia đình gồm hai con trai, hai con dâu, một gái, một rể và những đứa con của họ vẫn sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp ăn. Thiên hạ thì chia ra, bà cụ lại gom vào. Vẫn rất êm thấm mới lạ chứ. Nếp nhà đã thắng được tự do của cá nhân sao? Phải nói thêm, cái nếp nhà này cũng ít ai theo kịp. Người con dâu cả vốn là con gái Hàng Bồ, đỗ đại học, là một cô gái kiêu hãnh, tự tin, không dễ nhân nhượng. Ai cũng nghĩ hai người đàn bà, một già một trẻ, cùng sắc sảo sẽ rất khó chấp nhận nhau. Vậy mà họ ăn ở với nhau đã mười lăm năm chả có điều tiếng gì. Người chị của cô con dâu đến nói với bà cô tôi: “Bác chịu được tính nó thì con cũng phục thật đấy.”. Bà cải chính: “Đúng là tôi có phần phải chịu nó nhưng nó cũng có phần phải chịu tôi, mỗi bên chịu một nửa.”. Bà bảo, con dâu là vàng trời cho, mình không có công đẻ ra nó, cũng không nuôi nó ăn học ngày nào, bỗng dưng nó về nhận mình là mẹ, sinh con đẻ cái cho dòng họ, cáng đáng mọi việc từ trẻ đến già, không lễ sống nó thì thôi còn hoạnh hoe nồi gì. Bà chiều quý, và tôn trọng các con dâu thật lòng nên cả hai nàng dâu đều tâm sự với mẹ chồng: “Con ở với mẹ còn thoải mái hơn ở nhà với mẹ con.”. Con rể và con gái được nhận nhà ở một khu tập thể, nhà chật, lại xa, con còn nhỏ. Nhưng anh con rể không muốn nhờ vả mẹ vợ, tự mình cũng thấy không tiện mà người ngoài nhìn vào càng không tiện. Bà biết thế nên bảo con rế: “Trong cái nhà của tôi có một phòng dành cho vợ anh. Của vợ anh tức là của anh. Cũng như mọi thứ của anh tức là của vợ anh. Chẳng lẽ anh bảo không phải.”. Năm ngoái khu phố có yêu cầu bà cụ báo cáo về nếp sống gia đình cho hàng phố học tập. Bà từ chối, khi tôi lại thăm, bà nói riêng: “Cái chuyện ấy ai cũng biết cả, chỉ khó học thôi.”. Tôi cười: “Lại khó đến thế sao?”. Bà cụ nói: “Trong nhà này, ba đời nay, không một ai biết tới câu mày, câu tao. Anh có học được không?”. À, thế thì khó thật. Theo bà cụ, thời bây giờ có được vài trăm cây vàng không phải là khó, cũng không phải là lâu, nhưng có được một gia đình hạnh phúc phải mất vài đời người, phải được giáo dục vài đời. Hạnh phúc không bao giờ là món quà tặng bất ngờ, không thể đi tìm, mà cũng không nên cầu xin. Nó là cách sống, một quan niệm sống, là nếp nhà, ở trong tay mình, nhưng nhận được ra nó, có ý thức vun trồng nó, lại hoàn toàn không dễ.
(Nguyễn Khải, Nếp nhà, dẫn theo nhandan.vn)
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học, kết hợp các thao tác phân tích, chứng minh, nhận xét, đánh giá.
- Xác định đúng đối tượng nghị luận: nhân vật “bà cô tôi” trong đoạn trích Nếp nhà của Nguyễn Khải.
- Sử dụng dẫn chứng tiêu biểu trong đoạn trích để làm rõ tính cách, quan điểm sống và cách ứng xử của nhân vật.
- Đoạn văn cần bảo đảm dung lượng khoảng 200 chữ, có câu chủ đề, lập luận mạch lạc, diễn đạt trong sáng.
HS cần nêu được các ý chính sau đây:
a) Mở đoạn: Nêu khái quát về đặc điểm, tính cách nhân vật “bà cô tôi” được thể hiện trong đoạn trích (là người có quan điểm sống rất đúng đắn, suy nghĩ sắc sảo, tạo nên một “nếp nhà” đẹp đẽ).
b) Thân đoạn:
b.1. Nêu các biểu hiện làm rõ cho đặc điểm tính cách của “bà cô tôi” đã nêu ở cầu mở đoạn. HS có thể có những cảm nhận khác nhau. Tham khảo các ý sau đây:
Bà có cách tổ chức gia đình; công bằng và tôn trọng con cái; khiêm tốn, tự trọng, coi trọng nếp nhà;... Cần dẫn ra các bằng chứng cụ thể từ đoạn trích.
b.2. Nêu nghệ thuật khắc họa nhân vật “bà cô tôi” của nhà văn Nguyễn Khải. Tham khảo các ý sau: cách kể tự nhiên, ngôn ngữ sắc sảo; sử dụng ngôi thứ nhất, là người trong cuộc; kết hợp chuyển đổi điểm nhìn trần thuật làm cho câu chuyện sinh động, khách quan,...
b.3. Nêu tình cảm, thái độ của tác giả dành cho nhân vật: Nhà văn thể hiện sự thấu hiểu, trân trọng “bà cô”, nể phục của mình.
c) Kết đoạn: Đánh giá khái quát hoặc nêu ấn tượng sâu đậm của bản thân về nhân vật “bà cô tôi”.
Từ đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) bàn về một cách sống cần có để thể hiện ý thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay đối với đất nước.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: một cách sống cần có để thể hiện ý thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.
- Có thể lựa chọn cách sống được gợi ra từ đoạn thơ như không dựa dẫm, không ỷ lại vào quá khứ; chủ động sống, học tập và cống hiến.
- Kết hợp lí lẽ chặt chẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, phù hợp.
- Bài viết bảo đảm bố cục ba phần, lập luận logic, diễn đạt trong sáng, mạch lạc.
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài
a. Giải thích
- Sống chủ động, tự lập là tự ý thức về mục tiêu, trách nhiệm của bản thân, chủ động học tập, rèn luyện và giải quyết công việc thay vì chờ đợi hay phụ thuộc vào người khác.
- Không dựa dẫm vào quá khứ không có nghĩa là phủ nhận thành quả của cha ông mà là biết trân trọng những thành quả ấy và tiếp tục tạo ra những giá trị mới.
b. Biểu hiện của cách sống
- Chủ động học tập, tích lũy tri thức và kĩ năng.
- Có mục tiêu, lí tưởng và kế hoạch phát triển bản thân.
- Không ngại khó khăn, thất bại; biết tự chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
- Không bằng lòng với những thành quả mà thế hệ trước đã tạo dựng.
- Chủ động tham gia các hoạt động cộng đồng, bảo vệ môi trường, giúp đỡ người khác.
- Có ý thức giữ gìn những giá trị văn hóa, lịch sử và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Trong học tập, lao động và nghề nghiệp, cố gắng tạo ra những giá trị có ích cho cộng đồng và đất nước.
c. Vì sao đây là cách sống thể hiện trách nhiệm với đất nước?
- Đất nước muốn phát triển cần một thế hệ trẻ có tri thức, năng lực và tinh thần trách nhiệm.
- Sự chủ động giúp người trẻ phát huy năng lực cá nhân thay vì trở thành người phụ thuộc.
- Mỗi đóng góp dù nhỏ cũng góp phần tạo nên sức mạnh chung của xã hội.
- Khi người trẻ biết tiếp nối nhưng không phụ thuộc vào thành quả của thế hệ trước, những giá trị tốt đẹp của dân tộc sẽ được bảo tồn và phát triển.
d. Phản đề
- Phê phán một bộ phận người trẻ: Sống thụ động, thiếu mục tiêu, chỉ muốn hưởng thụ nhưng ngại nỗ lực; Dựa dẫm vào gia đình hoặc thành quả của người khác;Tự hào về quá khứ nhưng không có hành động cụ thể trong hiện tại.
e. Bài học nhận thức và hành động
- Mỗi người trẻ cần nhận thức rằng trách nhiệm với đất nước bắt đầu từ trách nhiệm với chính mình.
- Chủ động học tập, rèn luyện đạo đức, kĩ năng và sức khỏe.
- Biết trân trọng truyền thống nhưng không ngừng sáng tạo.
- Sẵn sàng đóng góp bằng năng lực và vị trí của mình.
- Biến tình yêu đất nước từ cảm xúc thành những hành động thiết thực trong đời sống hằng ngày.
3. Kết bài
- Khẳng định sống chủ động, tự lập, không dựa dẫm và biết cống hiến là một trong những cách thiết thực để thế hệ trẻ thể hiện trách nhiệm với đất nước.





