Đề tham khảo thi giữa học kì 1 Văn 12 - Đề số 11
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Sống mòn
(Trích)
(Tóm tắt đoạn trước: Sau khi từ Sài Gòn trở về vì đau tim, Thứ bị thất nghiệp. Đích, anh họ Thứ, chung vốn với Oanh, vợ chưa cưới của Đích, mở một trường tư ở ngoại ô Hà Nội. Do được bổ đi làm ở xa, Đích mượn Thứ đứng chân hiệu trưởng và mời dạy mấy lớp trên. Ban đâu, Thứ rất hào hứng, tận tâm nhưng chỉ ít lâu, anh chán nghề... Bao nhiêu tiền thu được đều vào túi Oanh. Oanh không những bóc lột sức lao động của Thứ và San (một giáo viên của trường, dạy các lớp dưới) mà khi nấu cơm cho họ, Oanh còn bắt họ ăn uống quá kham khổ. Nhiều lần Thứ định nói chuyện dứt khoát với Oanh để giải thoát cho mình và tổ chức lại cái trường cho tử tế. Nhưng bản tính nhút nhát, do dự, sợ va chạm nên Thứ cứ ngần ngại, để tình trạng nặng nề kéo dài. Cuộc sống chung dụng ngày càng không chịu nổi vì thơi keo bẩn, thớ lợ của Oanh. Thứ bực và buồn lắm vì thấy rằng sống với người nhỏ nhen thì mình cũng thành nhỏ nhen[1].).
(1) Thứ không đáp. Y ngẫm nghĩ. Mặt y hầm hầm và đôi môi y chụm lại. Rồi y hăn học bảo:
– Kiếp chúng mình, tức lạ. Sao mà cải đời nó tù túng, nó chật hẹp, nó bần tiện thế! Không bao giờ dám nhìn cao một tí. Chỉ những lo ăn, lo mặc. Hình như tất cả nguyện vọng, tất cả mong ước, tất cả mục đích của đời chúng mình, chỉ là mỗi ngày hai bữa. Bao nhiều tài trí, sức lực lo tính đều chỉ dùng vào việc ấy. Khổ sở cũng vì thế, nhục nhã cũng vì thế, mỏi mòn tài năng, trí óc, giết chết những mong muốn đẹp, những hi vọng cao xa cũng vì thế nốt. Lúc nào cũng lo chết đói. Lúc nào cũng làm thế nào cho không chết đói! Như vậy thì sống làm gì cho cực?
(2) Thứ vẫn không thể nào chịu được rằng sống chỉ làm thế nào cho mình và vợ con có cơm ăn, áo mặc thôi. Sống là để làm một cái gì đẹp hơn nhiều, cao quý hơn nhiều. Mỗi người sống, phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ những khả năng của loài người chứa đựng ở trong mình. Phải gom sức lực của mình vào công cuộc tiến bộ chung. Mỗi người chết đi, phải để lại một chút gì cho nhân loại. Có thú vị gì là cái lối sống co quắp vào mình, cái lối sống quá ư loài vật, chẳng còn biết một việc gì ngoài cái việc kiếm thức ăn đổ vào cái dạ dày. Có ai muốn gục mặt xuống làm gì? Đau đớn thay cho những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất. Hỡi ôi! Người ta đã phí bao nhiêu tâm huyết, bao nhiêu công lao để giải thoát loài người. Giê-su (Jesus) đã phải đồ máu ra. Thích Ca đã phải từ bỏ tất cả những phú quý vinh hoa của đời mình. Vô ích cả, chừng nào nhân loại chưa thoát khỏi những xiềng xích của cái đói và cái rét. Thứ thường có những lúc sực nhớ đến những cao vọng của mình xưa, ngán ngẩm buồn, tiếc cho mình. Y cứ đinh ninh rằng giá y không bị nghèo thì có lẽ y không đến nỗi đớn hèn thế này đâu. Có lẽ y sẽ làm được một cái gì. Biết bao nhiêu tài năng không nảy nở được, chỉ vì không gặp được một cái hoàn cảnh tốt!...
(Nam Cao, Sống mòn, in trong Tuyển tập Nam Cao, tập 2,NXB Văn học, Hà Nội, 2005,
tr. 259 – 260)
Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích trên.
Vận dụng kiến thức về ngôi kể trong truyện, căn cứ vào người kể chuyện và cách sử dụng đại từ xưng hô trong văn bản.
Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ 3
Trong đoạn (1), theo nhân vật Thứ, “kiếp chúng mình” có đặc điểm gì?
Đọc kĩ đoạn văn, tìm và khái quát những đặc điểm của “kiếp chúng mình” được nhân vật Thứ trực tiếp nêu ra.
Trong đoạn (1), theo nhân vật Thứ, “kiếp chúng mình” là những người phải sống cuộc đời tù túng, chật hẹp, bần tiện, không quan tâm được đến những điều cao quý mà chỉ quanh quẩn lo ăn, lo mặc, đặc biệt là lo hai bữa ăn mỗi ngày; họ sống khổ sở, nhục nhã, không phát triển được tài năng, trí óc của bản thân, chỉ sợ chết đói.
Nêu tác dụng của những câu hỏi tu từ có trong đoạn trích trên.
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ câu hỏi tu từ, phân tích tác dụng trên các phương diện: hình thức, nội dung và cảm xúc.
- Đoạn trích có các câu hỏi tu từ sau:
+ Như vậy thì sống làm gì cho cực?
+ Có ai muốn gục mặt xuống làm gì?
- Hai câu trên thể hiện sự băn khoăn, trăn trở, day dứt, đau đớn của Thứ khi suy ngẫm về cuộc đời của “chúng mình”.
Nhân vật Thứ trong đoạn trích là người như thế nào? Qua nhân vật, nhà văn muốn thể hiện tư tưởng gì?
- Vận dụng kĩ năng phân tích nhân vật, căn cứ vào suy nghĩ, lời nói, hoàn cảnh và khát vọng của nhân vật để làm rõ đặc điểm tính cách.
- Từ nhân vật, khái quát tư tưởng, tình cảm của nhà văn.
Học sinh tự đưa ra quan điểm cá nhân của mình. Chú ý có lý giải.
Gợi ý:
- Thứ là người tri thức có nhiều suy nghĩ tích cực, tiến bộ nhưng bị cái nghèo cái khổ làm cho phải sống cuộc sống cơ cực, đớn hèn.Thứ muốn làm nhiều điều tốt đẹp nhưng bị cuộc sống nghèo đói rơi vào bi kịch. Tuy nhiên, nhân vật vẫn luôn khao khát được vươn lên với cuộc sống tốt đẹp hơn.
- Qua đây, tác giả muốn thể hiện sự thấu hiểu, đồng cảm, chia sẻ với nhân vật; nêu lên bi kịch của người tri thức trong xã hội cũ.
Anh/ Chị có đồng tình với quan điểm “Biết bao nhiêu tài năng không nảy nở được, chỉ vì không gặp được một cái hoàn cảnh tốt!” không? Vì sao? Trả lời trong khoảng 7 – 10 dòng.
- Vận dụng kĩ năng bày tỏ quan điểm về một vấn đề, kết hợp giải thích, phân tích và liên hệ thực tế.
- Có thể đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phần, nhưng phải có lí lẽ thuyết phục.
HS bày tỏ sự đồng tình hoặc phản đối quan điểm của Thứ: “Biết bao nhiêu tài năng không nảy nở được, chỉ vì không gặp được một cái hoàn cảnh tốt!”.
- Nếu đồng tình, cần nhấn mạnh hoàn cảnh tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tài năng nảy nở.
- Nếu phản đối, cần nhấn mạnh con người phải biết vượt lên trên hoàn cảnh, kiên định với lí tưởng của mình. Đôi khi nghịch cảnh lại là động lực để con người quyết tâm vươn tới những điều tốt đẹp hơn.
- Nếu vừa đồng tình vừa phản đối, cần kết hợp hai ý trên.
Nội dung câu trả lời cần chặt chẽ, có sức thuyết phục; độ dài theo số dòng quy định.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của việc sử dụng những chất liệu của văn học dân gian trong đoạn thơ sau:
Nhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minh
Không hề lừa ta dù ca dao, cổ tích
Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật
Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời
Dầu phải khi cay đắng dập vùi
Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu
Cây khế chua có đại bàng đến đậu
Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta
Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa
Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa
Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào
Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!...
(Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước, in trong Thơ Việt Nam 1945 – 1985, NXB Giáo dục, 1985, tr. 185)
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học, kết hợp các thao tác phân tích, nhận xét, đánh giá.
- Xác định đúng vấn đề: ý nghĩa của việc sử dụng chất liệu văn học dân gian trong đoạn thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm.
- Chỉ ra đúng các chất liệu dân gian và phân tích tác dụng của chúng đối với nội dung, nghệ thuật và tư tưởng của đoạn thơ.
- Đoạn văn cần bảo đảm dung lượng khoảng 200 chữ, có câu chủ đề, lập luận mạch lạc và dẫn chứng phù hợp.
Bài viết cần nêu được các ý chính sau đây:
a) Mở đoạn: Nêu đoạn trích, xuất xứ của đoạn trích; khái quát về ý nghĩa của việc sử dụng những chất liệu của văn học dân gian trong đoạn thơ đã nêu.
b) Thân đoạn:
b.1. Chỉ ra những chất liệu của văn học dân gian và cách sử dụng chúng trong đoạn thơ đã nêu (gọi tên các thể loại của văn học dân gian như ca dao, cổ tích; nêu quan điểm của nhân dân thể hiện trong các câu chuyện cổ tích; nêu tên một số nhân vật trong các câu chuyện cổ tích; sử dụng một số từ ngữ ở các câu tục ngữ,;...).
b.2. Nêu ý nghĩa của việc sử dụng các chất liệu dân gian trong đoạn thơ đã nêu (thể hiện sự hiểu biết sâu rộng của tác giả về văn học dân gian; gợi cho người đọc nhớ lại những thể loại và tác phẩm văn học dân gian đặc sắc, gần gũi, phổ biến với mọi người; coi đó là ví dụ để khẳng định quan điểm của tác giả về nhân dân – đề cao và ca ngợi nhân dân với những phẩm chất và thái độ sống cao đẹp: thông minh, khát khao hạnh phúc và công bằng, sống có niềm tin và hi vọng...).
c) Kết đoạn: Đánh giá khái quát hoặc nêu ấn tượng sâu đậm của bản thân về những chất liệu của văn học dân gian được sử dụng trong đoạn thơ đã nêu.
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bàn về vấn đề: Tuổi trẻ và lòng nhân ái.
- Vận dụng kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội, kết hợp các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và liên hệ.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: vai trò và sự cần thiết của lòng nhân ái đối với tuổi trẻ.
- Kết hợp lí lẽ chặt chẽ với dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, phù hợp để làm sáng tỏ các luận điểm.
- Bài viết cần bảo đảm bố cục ba phần, lập luận logic, diễn đạt trong sáng, mạch lạc.
Bài viết cần nêu được các ý chính sau đây:
a) Mở bài: Giới thiệu vấn đề: Tuổi trẻ và lòng nhân ái và khẳng định tuổi trẻ cần biết sống nhân ái.
b) Thân bài:
b.1. Giải thích
– Đặc điểm nổi bật của tuổi trẻ là gì?
– Lòng nhân ái có những biểu hiện như thế nào?
– Tại sao tuổi trẻ cần quan tâm và có lòng nhân ái?
b.2. Bàn luận
– Phân tích và ca ngợi, biểu dương lối sống, phẩm chất nhân ái ở những người trẻ tuổi.
– Tác dụng của lối sống, phẩm chất nhân ái ở những người trẻ tuổi?
– Phê phán lối sống thiếu nhân ái, bao dung,...
Trong khi bình luận cần nêu lên các bằng chứng minh hoa cho lí lẽ.
b.3. Liên hệ bản thân và rút ra bài học
– Những biểu hiện của lối sống, phẩm chất nhân ái ở bản thân anh / chị?
– Làm thế nào để tuổi trẻ ngày càng sống nhân ái hơn?
c) Kết bài: Khẳng định lại sự cần thiết của lối sống, phẩm chất nhân ái ở người





