Đề thi giữa học kì 1 Văn 6 - Đề số 8
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn dưới đây:
Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng tôi mẫm bóng. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua. Đôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Đầu tôi to ra và nổi từng tảng, rất bướng. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc. Sợi râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng. Tôi lấy làm hãnh diện với bà con về cặp râu ấy lắm. Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.
Tôi đi đứng oai vệ. Mỗi bước đi, tôi làm điệu dún dẩy các khoeo chân, rung lên rung xuống hai chiếc râu. Cho ra kiểu cách con nhà võ. Tôi tợn lắm. Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm. Khi tôi to tiếng thì ai cũng nhịn, không ai đáp lại. Bởi vì quanh quẩn, ai cũng quen thuộc mình cả. Không nói, có lẽ họ nể hơn là sợ. Nhưng tôi lại tưởng thế là không ai dám ho he. Ấy vậy, tôi cho là tôi giỏi. Những gã xốc nổi thương lầm cử chỉ ngông cuồng là tài ba. Tôi đã khái quát mấy chị Cào Cào ngụ ngoài đầu bờ, khiến mỗi lần thấy tôi đi qua, các chị phải núp khuôn mặt trái xoan dưới nhánh cỏ, chỉ dám đưa mắt lên nhìn trộm. Thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đã một cái, ghẹo anh Gọng Vó lấm láp vừa ngơ ngác dưới đầm lên. Tôi càng tưởng tôi là tay ghế gớm, có thể sắp đứng đầu thiên hạ rồi.
Chao ôi, có biết đâu rằng: hung hăng, hống hách láo chỉ tổ đem thân mà trả nợ những cử chỉ ngu dại của mình thôi. Tôi đã phải trải cảnh như thế. Thoát nạn rồi, mà con ân hận quá, ân hận mãi. Thế mới biết, nếu đã trót không suy tính, lỡ xảy ra những việc dại dột, dù về sau có hối cũng không thể làm lại được.
(Dế Mèn phiêu lưu ký – Tô Hoài)
Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy? Ai là người kể câu chuyện đó?
Xác định người kể chuyện có trực tiếp tham gia vào câu chuyện hay không.
Tác phẩm kể theo ngôi thứ nhất, do Dế Mèn kể.
Câu văn “Những ngọn cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua” sử dụng biện pháp tu từ?
Tìm hình ảnh đặt sự vật, hiện tượng này bên cạnh sự vật, hiện tượng khác để làm nổi bật đặc điểm.
Câu trên sử dụng biện pháp so sánh.
Dế Mèn miêu tả hành động vuốt râu như thế nào? Hành động đó thể hiện điều gì về tính cách của Dế Mèn?
Tìm chi tiết miêu tả trực tiếp hành động của Dế Mèn khi vuốt râu.
Dế Mèn miêu tả: “Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.”
=> Thể hiện tính cách tự phụ, điệu bộ và thích làm dáng, thể hiện sự kiêu hãnh với vẻ ngoài của mình.
Trong đoạn trích tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá rất tài tình để miêu tả Dế Mèn. Em hãy liệt kê 2 từ ngữ/hình ảnh/câu văn có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá. Cho biết tác dụng.
Đọc lại đoạn trích, tìm 2 chi tiết có dấu hiệu so sánh hoặc gán cho con vật những đặc điểm, hành động của con người.
- Nhân hóa: Dế Mèn có suy nghĩ, cảm xúc, biết kể chuyện, biết làm dáng, biết hối hận như con người (bướng, trịnh trọng, khoan thai,…)
- So sánh: “như nhát dao lia qua”, “như hai lưỡi liềm máy làm việc”...
- Tác dụng: Giúp nhân vật Dế Mèn trở nên sinh động, gần gũi, thể hiện rõ tính cách tự kiêu, non nớt và sự thay đổi trong nhận thức. Qua đó, gửi gắm bài học nhẹ nhàng, thấm thía cho người đọc.
Em hãy rút ra một lời khuyên dành cho những người có ưu điểm nhưng dễ mắc thói kiêu ngạo như Dế Mèn.
Dựa vào khuyết điểm của Dế Mèn để đưa ra lời khuyên phù hợp.
Gợi ý:
Lời khuyên: Có năng lực là điều đáng quý, nhưng hãy luôn khiêm tốn, biết lắng nghe và tôn trọng người khác. Sự ngạo mạn có thể khiến người tài giỏi cũng trở nên cô lập và dễ vấp ngã.
Qua đoạn văn, em học được bài học gì trong cách nhìn nhận và đánh giá bản thân? (Trả lời bằng đoạn văn ngắn từ 5-7 câu)
Viết đoạn 5–7 câu, nêu bài học về cách đánh giá bản thân: nhận thức đúng ưu điểm → không tự cao → nhìn nhận hạn chế → biết lắng nghe, sửa sai → hoàn thiện bản thân.
Gợi ý:
- Biết trân trọng những điểm mạnh của mình, nhưng cũng phải biết khiêm nhường, không quá đề cao bản thân. - Cần đánh giá đúng năng lực, điểm mạnh, điểm yếu của chính mình.
- …
=> Việc đánh giá đúng bản thân, hiểu rõ bản thân sẽ giúp chúng ta hoàn thiện mình và sống hòa đồng với mọi người.
Phần II. Viết
Viết bài văn khoảng 400 chữ ghi lại cảm xúc của em sau khi đọc bài thơ sau: Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
(Cảnh khuya – Hồ Chí Minh)
- Xác định vẻ đẹp thiên nhiên và tâm trạng của Bác qua các hình ảnh, từ ngữ, biện pháp nghệ thuật tiêu biểu; từ đó nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản thân.
- Triển khai bài viết theo bố cục mở bài – thân bài – kết bài, kết hợp cảm nhận với dẫn chứng từ bài thơ.
Về kỹ năng, hình thức:
- Học sinh viết đúng kiểu bài biểu cảm về một bài thơ.
- Hành văn, diễn đạt trong sáng, kết cấu bài hoàn chỉnh, chặt chẽ. Không mắc lỗi thông thường về chính tả, ngữ pháp.
Về nội dung:
1. Mở bài: Giới thiệu bài thơ và nêu cảm nghĩ chung về bài thơ.
2. Thân bài: Nêu cảm xúc, suy nghĩ của em về bài thơ trên cơ sở phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:
- Cảnh khuya ở núi rừng Việt Bắc:
+ Thời gian: đêm khuya vắng lặng, tĩnh mịch ở giữa núi rừng.
+ Âm thanh: vẳng lại tiếng suối trong trẻo, nghe như tiếng hát xa.
+ Ánh sáng: ánh trăng khuya chiếu xuống cây cổ thụ, sự hòa hợp của ánh sáng và cảnh vật: trăng, cổ thụ, hoa,…làm tăng lên vẻ đẹp lung linh.
- Tâm sự của tác giả:
+ Cảnh tuy đẹp nhưng nhà thơ không ngủ được, bởi Người thức để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên. + Nhà thơ đồng thời là người chiến sĩ cách mạng đang gánh vác trọng trách, bởi vậy trằn trọc không ngủ vì lo việc nước.
3. Kết bài: Những suy nghĩ của người viết về bài thơ và tác giả của bài thơ.





