Đề kiểm tra kì 2 Văn 8 PGD&ĐT quận Bắc Từ Liêm (2023-2024)
FlashcardsHọc Flashcards
Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Tốc độĐấu trường tốc độ
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Phần I. Đọc hiểu
CON SẺ
Tôi đi dọc lối vào vườn. Con chó chạy trước tôi. Chợt nó dừng chân và bắt đầu bò, tuồng như đánh hơi thấy vật gì. Tôi nhìn dọc lối đi và thấy một con sẻ non mép vàng óng, trên đầu có một nhúm lông tơ. Nó rơi từ trên tổ xuống.
Con chó chậm rãi lại gần. Bỗng từ trên cây cao gần đó, một con sẻ già có bộ ức đen nhánh lao xuống như hòn đá rơi trước mõm con chó. Lông sẻ già dựng ngược, miệng rít lên tuyệt vọng và thảm thiết. Nó nhảy hai ba bước về phía cái mõm há rộng đầy răng của con chó.
Sẻ già lao đến cứu con, lấy thân mình phủ kín sẻ con. Giọng nó yếu ớt nhưng hung dữ và khản đặc. Trước mắt nó, con chó như một con quỷ khổng lồ. Nó sẽ hi sinh. Nhưng một sức mạnh vô hình vẫn cuốn nó xuống đất.
Con chó của tôi dừng lại và lùi… Dường như nó hiểu rằng trước mặt nó có một sức mạnh. Tôi vội lên tiếng gọi con chó đang bối rối ấy tránh ra xa, lòng đầy thán phục.
Vâng, lòng tôi đầy thán phục, xin bạn đừng cười. Tôi kính cẩn nghiêng mình trước con chim sẻ bé bỏng dũng cảm kia, trước tình yêu của nó.
(Theo I. Tuốc-ghê-nhép)
Văn bản trên được viết theo thể loại nào?
Tiểu thuyết.
Hồi kí.
Truyện ngắn.
Tùy bút.
Dựa vào đặc trưng thể loại
Tác phẩm tự sự ngắn, hoàn chỉnh, chỉ xoay quanh một sự kiện đơn nhất với số nhân vật hạn chế. Văn bản trên có cốt truyện đơn giản, ít tình tiết và chủ yếu tập trung vào sự kiện giữa con sẻ già và con chó, thích hợp với đặc trưng của truyện ngắn.
Đề tài của văn bản là gì?
Tình mẫu tử.
Tình phụ tử.
Lòng dũng cảm.
Lòng nhân hậu.
Từ nội dung xác định đề tài
Vì con sẻ già đã thể hiện sự chăm sóc và bảo vệ một cách mãnh liệt đối với con mình.
Việc lựa chọn ngôi kể trong văn bản trên không có tác dụng nào dưới đây?
Giúp khám phá thế giới nội tâm của nhân vật.
Giúp câu chuyện được kể lại chân thực, sinh động.
Bộc lộ cảm xúc của nhân vật một cách trực tiếp, chân thực.
Giúp người đọc dễ dàng xác định được bố cục của truyện.
Chú ý lời của người kể chuyện
Giúp người đọc dễ dàng xác định được bố cục của truyện.
Việc xác định chủ đề của văn bản trên dựa vào câu hỏi nào sau đây?
Nhan đề của truyện là gì?
Sự việc nào là sự việc tiêu biểu trong truyện?
Tác phẩm viết về cái gì?
Vấn đề cơ bản của truyện nêu lên là gì?
Chú ý lời của người kể chuyện
Lời giải chi tiết:
Để xác định chủ đề của văn bản, chúng ta cần tìm hiểu vấn đề cơ bản mà truyện muốn nêu lên. Đây là yếu tố cốt lõi chi phối toàn bộ nội dung và thông điệp của văn bản. Do đó, câu hỏi giúp xác định chủ đề chính xác nhất là:
D. Vấn đề cơ bản của truyện nêu lên là gì?
Việc hiểu đúng vấn đề cơ bản sẽ giúp chúng ta đi sâu vào ý nghĩa của tác phẩm, nhìn nhận được thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.
Chú ý khi giải:
- Em cần phân biệt giữa chủ đề, nhan đề và sự việc trong truyện. Chủ đề là vấn đề chính mà câu chuyện muốn nêu lên. Nhận diện chủ đề không chỉ dựa vào nhan đề hay sự việc cụ thể mà cần hiểu vấn đề sâu xa của văn bản.
- Khi gặp bài tương tự, hãy đọc kĩ văn bản để nắm rõ mạch truyện và tư tưởng chủ đạo mà tác giả muốn truyền tải.
- Câu hỏi về vấn đề cơ bản của truyện là gợi ý hữu ích nhất để tìm ra chủ đề chính của tác phẩm.
Câu văn “Trước mắt nó, con chó như một con quỷ khổng lồ. ” sử dụng biện pháp tu từ nào?
Ẩn dụ.
Nhân hóa.
Hoán dụ.
So sánh.
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp so sánh
So sánh
Từ in đậm trong câu văn “Dường như nó hiểu rằng trước mặt nó có một sức mạnh.” là thành phần biệt lập nào?
Thành phần tình thái.
Thành phần phụ chú.
Thành phần gọi – đáp.
Thành phần cảm thán.
Vận dụng kiến thức về các thành phần biệt lập
Trong câu văn được dẫn ra, từ "dường như" là thành phần dùng để diễn tả thái độ, quan điểm, sự phán đoán của người nói về sự việc, hiện tượng được đề cập. Đây chính là đặc điểm của thành phần tình thái trong câu tiếng Việt. Thành phần tình thái có chức năng thể hiện mức độ chính xác của thông tin hay ý kiến, cảm nhận chủ quan của người nói.
Vậy, thành phần in đậm "Dường như" là thành phần tình thái.
Hành động “Sẻ già lao đến cứu con, lấy thân mình phủ kín sẻ con” cho thấy điều gì?
Sẻ già muốn cứu con, sẵn sàng đối mặt với con chó.
Sẻ già rất thương con, sẵn sàng hi sinh bản thân để bảo vệ con.
Sẻ già thương con nên muốn bảo vệ con.
Sẻ già thương con nên muốn cứu con.
Phân tích hành động và cảm xúc của con sẻ già khi bảo vệ con mình
Sẻ già rất thương con, sẵn sàng hi sinh bản thân để bảo vệ con
Nội dung của văn bản Con sẻ là gì?
Ca ngợi sự nhanh trí của sẻ mẹ khi thấy sẻ con gặp nguy hiểm.
Ca ngợi hành động dũng cảm của sẻ mẹ để bảo vệ sẻ con.
Ca ngợi sẻ con và sẻ mẹ cùng nhau vượt qua nguy hiểm.
Chê trách chú sẻ con bất cẩn để rơi khỏi tổ.
Đọc kĩ nội dung của văn bản
Nội dung chính của đoạn văn là tôn vinh hành động dũng cảm của sẻ mẹ khi nó đối diện với hiểm nguy để bảo vệ con, bất chấp sự đe dọa từ con chó.
Vì sao khi chứng kiến cảnh sẻ già lao đến cứu con, nhân vật tôi lại cảm thấy “lòng đầy thán phục”?
Đọc kĩ chi tiết sẻ già lao đến cứu con và lí giải
Khi chứng kiến cảnh sẻ già lao đến cứu con, nhân vật tôi cảm thấy “lòng đầy thán phục” vì:
- Thấy được sự dũng cảm và sức mạnh của sẻ già trước con chó lớn hơn nó nhiều lần.
- Cảm phục trước tình mẫu tử thiêng liêng, sẵn sàng quên mình để cứu con của sẻ già.
Văn bản trên đã gửi tới chúng ta nhiều thông điệp ý nghĩa. Hãy ghi lại hai thông điệp mà em tâm đắc nhất.
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
- Thông điệp của câu chuyện:
+ Tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hi sinh bản thân vì người khác.
+ Ý nghĩa thiêng liêng của tình mẫu tử.
+ Sức mạnh của tình yêu thương.
+ ……
Văn bản Con sẻ đã khơi gợi trong em những tình cảm tốt đẹp. Bằng một đoạn văn phối hợp khoảng 8 câu, hãy nêu suy nghĩ của em về một trong những tình cảm đó. Trong đoạn văn có sử dụng một câu phủ định (gạch chân và chú thích rõ).
Đọc kĩ văn bản
Xác định tình cảm sau khi đọc văn bản
Vận dụng thao tác lập luận, phân tích
- Giải thích được tình cảm đó là gì?
- Biểu hiện
- Ý nghĩa mà tình cảm đó mang lại
- Liên hệ bản thân
Phần II. Viết
Hãy viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện mà em yêu thích.
* Mở bài: Giới thiệu được tác phẩm truyện mà em yêu thích: nhan đề, tác giả, thể loại, nhận xét chung về tác phẩm.
* Thân bài: Nêu được chủ đề và phân tích các biểu hiện làm rõ chủ đề của tác phẩm
- Phân tích đề tài, cốt truyện làm sáng tỏ chủ đề
- Phân tích nhân vật làm rõ chủ đề:
+ Phân tích các chi tiết về hoàn cảnh, việc làm, cử chỉ, lời nói, ... và mối quan hệ với các nhân vật khác
+ Đánh giá nhân vật
- Phân tích các nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật:
+ Cách lựa chọn ngôi kể
+ Nghệ thuật khắc họa nhân vật (ngoại hình và nội tâm)
+ Ngôn ngữ kể chuyện...
+ Chi tiết giàu ý nghĩa (chọn và phân tích một chi tiết tiêu biểu)
* Kết bài:
- Khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện.
- Nêu tác động của truyện đối với em.
Mẫu 1:
Trong nền văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Nam Cao nổi bật với những tác phẩm viết về người nông dân nghèo khổ, trong đó "Lão Hạc" là một truyện ngắn xuất sắc. Tác phẩm kể về số phận đau thương của một lão nông già cô đơn, phải đối mặt với bi kịch cùng đường nhưng vẫn giữ trọn nhân cách cao đẹp. Qua câu chuyện này, Nam Cao không chỉ tố cáo xã hội bất công mà còn ngợi ca tình phụ tử thiêng liêng và lòng tự trọng của con người trong cảnh khốn cùng.
Lão Hạc là một nông dân nghèo khổ, sống cô đơn sau khi vợ mất, con trai vì quá túng quẫn phải bỏ đi làm ăn xa. Lão chỉ còn biết bám víu vào con chó Vàng như người bạn duy nhất. Cuộc sống của lão ngày càng khốn khó, không có việc làm ổn định, phải sống lay lắt bằng những thứ rau củ dại: "Hắn ăn củ chuối, củ ráy… Nhưng mà cũng chả no được". Chi tiết này cho thấy sự cùng cực của lão, một kiếp người bị xã hội bỏ rơi.
Vì không còn cách nào khác, lão Hạc buộc phải bán con chó Vàng – sinh vật duy nhất gắn bó với lão. Cảnh lão kể lại chuyện bán chó cho ông giáo đầy xúc động: "Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước…". Giọt nước mắt của lão không chỉ là nỗi đau vì mất đi người bạn trung thành mà còn là sự dằn vặt của một con người lương thiện: "Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó!". Lão tự coi mình là kẻ bội bạc, dù hành động ấy xuất phát từ sự bất đắc dĩ. Không muốn trở thành gánh nặng cho hàng xóm và giữ lại mảnh vườn cho con, lão Hạc chọn cái chết bằng bả chó – một sự ra đi dữ dội và đau đớn. Trước khi chết, lão gửi ông giáo số tiền dành dụm được, dặn dò chu đáo: "Tôi gửi lão năm đồng, để khi tôi chết, lão đem ra, nói với hàng xóm giúp cho…". Chi tiết này cho thấy lòng tự trọng đến cùng của lão, một con người dù chết cũng không muốn phiền luỵ ai.
Ông giáo là người hiểu và thương lão Hạc, nhưng cũng bất lực trước hoàn cảnh. Khi nghe lão kể chuyện bán chó, ông chỉ biết an ủi: "Lão cứ tưởng thế chứ nó chẳng hiểu gì đâu…". Nhưng chính ông cũng nhận ra sự bế tắc của mình: "Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện…". Qua nhân vật này, Nam Cao thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nỗi khổ của người nông dân, đồng thời phê phán xã hội vô cảm.
Nét nghệ thuật đầu tiên trong tác phẩm phải kể tới việc sử dụng ngôi kể thứ nhất chân thực, tự nhiên kết hợp kể từ góc nhìn của ông giáo, tạo cảm giác gần gũi, như một câu chuyện có thật. Bên cạnh đó, nghệ thuật miêu tả tâm lý sâu sắc. Nam Cao khắc họa nội tâm nhân vật qua những chi tiết nhỏ như nét mặt, cử chỉ, giọng nói nghẹn ngào của lão Hạc. Đồng thời, ngôn ngữ giản dị mà đầy sức gợi, lời văn mộc mạc như lời ăn tiếng nói của người nông dân, nhưng chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc.
"Lão Hạc" là một kiệt tác của Nam Cao, kết tinh giá trị hiện thực và nhân đạo. Tác phẩm không chỉ phơi bày hiện thực xã hội tàn bạo đẩy con người vào bước đường cùng mà còn ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, giàu lòng tự trọng của người nông dân. Câu chuyện khiến người đọc không khỏi xót xa trước số phận lão Hạc, đồng thời nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng tình người và đấu tranh cho một xã hội công bằng hơn.
Mẫu 2:
Trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại, "Lặng lẽ Sa Pa" của Nguyễn Thành Long tựa như một bông hoa nở giữa đại ngàn Tây Bắc, tỏa hương thơm ngọt ngào về vẻ đẹp con người trong lao động. Tác phẩm được sáng tác năm 1970, trong giai đoạn miền Bắc đang hăng say xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã khắc họa thành công hình ảnh những con người thầm lặng cống hiến nơi vùng cao. Qua cuộc gặp gỡ tình cờ nhưng đầy ý nghĩa giữa các nhân vật, nhà văn đã dệt nên bức tranh sinh động về vẻ đẹp tâm hồn và lý tưởng sống cao đẹp.
Nổi bật lên trong tác phẩm là hình ảnh anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét. Cuộc sống của anh diễn ra trong sự cô đơn đến nao lòng: "Bốn bề chỉ có cây cỏ và mây mù lạnh lẽo", "suốt ngày chạy đi chạy lại giữa cái lặng lẽ mênh mông". Thế nhưng, chính trong hoàn cảnh ấy, vẻ đẹp tâm hồn anh lại càng tỏa sáng. Anh đã biến nơi ở thành một không gian ấm áp với căn phòng ngăn nắp, vườn hoa rực rỡ sắc màu giữa núi rừng âm u. Đặc biệt, quan niệm sống của anh khiến người đọc phải suy ngẫm: "Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?". Câu nói giản dị ấy chứa đựng cả một triết lý sống sâu sắc - khi con người gắn bó máu thịt với công việc, họ sẽ không còn cảm thấy cô đơn.
Cùng với anh thanh niên, nhân vật ông họa sĩ già hiện lên như một điểm nhấn quan trọng trong tác phẩm. Với con mắt tinh tường của người nghệ sĩ, ông đã phát hiện ra vẻ đẹp ẩn giấu nơi anh thanh niên. Những trăn trở của ông về nghệ thuật: "Vẽ bao giờ cũng là một việc khó, nặng nhọc, gian nan" cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa nghệ thuật và hiện thực. Ông chính là cầu nối giữa thế hệ trước và sau, giữa nghệ thuật và cuộc sống. Qua nhân vật này, Nguyễn Thành Long gửi gắm quan niệm về sứ mệnh của người nghệ sĩ - phải biết phát hiện và tôn vinh cái đẹp trong cuộc sống đời thường.
Không thể không nhắc đến cô kỹ sư trẻ - đại diện cho thế hệ thanh niên mới bước vào đời. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với anh thanh niên đã trở thành bước ngoặt trong nhận thức của cô. Khoảnh khắc cô thốt lên: "Cuộc sống thật đáng sống biết bao!" chính là sự thức tỉnh về lý tưởng sống, về trách nhiệm của tuổi trẻ với đất nước. Nhân vật này mang đến luồng gió mới, thể hiện sự tiếp nối thế hệ trong công cuộc xây dựng đất nước.
Nguyễn Thành Long đã xây dựng thành công một tình huống truyện độc đáo - cuộc gặp gỡ chỉ trong vòng 30 phút dừng chân nhưng đủ để làm thay đổi nhận thức của các nhân vật. Cách miêu tả thiên nhiên của ông cũng thật tinh tế: "Những rặng đào với những đám mây trắng nhỏ nằm kẹp giữa các khe núi như những dải lụa". Thiên nhiên trong tác phẩm không chỉ là bối cảnh mà còn là nhân vật, có tâm trạng, có tiếng nói riêng. Ngôn ngữ truyện giản dị mà sâu lắng, giàu chất thơ: "Sa Pa bắt đầu heo may, những chiếc lá vàng rơi trong khoảnh khắc bàng bạc" đã tạo nên chất trữ tình đặc biệt cho tác phẩm. Hình ảnh vườn hoa của anh thanh niên là một chi tiết nghệ thuật đắt giá. Giữa nơi lạnh giá quanh năm mây phủ, vườn hoa rực rỡ sắc màu không chỉ là thành quả lao động mà còn là biểu tượng cho tâm hồn tươi đẹp, cho sức sống mãnh liệt của con người. Chi tiết này như một ẩn dụ nghệ thuật sâu sắc về khả năng chinh phục và cải tạo thiên nhiên của con người.
"Lặng lẽ Sa Pa" không đơn thuần là câu chuyện về một chuyến đi, mà là bản hòa ca về vẻ đẹp con người trong lao động. Bằng ngòi bút tinh tế và tấm lòng nhân hậu, Nguyễn Thành Long đã tạo nên một bức chân dung đẹp về con người mới trong công cuộc xây dựng đất nước. Đọc tác phẩm, ta không chỉ thấy được vẻ đẹp của những cống hiến thầm lặng mà còn được truyền thêm niềm tin yêu cuộc sống, khát vọng cống hiến. Như một lời nhắn nhủ dịu dàng mà sâu lắng, "Lặng lẽ Sa Pa" sẽ mãi là bài ca bất hủ về vẻ đẹp con người và ý nghĩa đích thực của lao động.





