Đề kiểm tra giữa kì 2 Văn 8 THCS Thạch Bàn (2024-2025) | Đề V802
Phần I. Đọc hiểu
Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta thường nói: nhà Pá Tra làm thống lí, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Thế thì con gái nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn. Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải là con gái nhà Pá Tra: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lí Pá Tra.
Cô Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào, cô không nhớ, cũng không ai nhớ. Nhưng người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mị về làm người nhà quan thống lí. Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị không đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô. Đến tận khi hai vợ chồng về già rồi mà cũng chưa trả được nợ. Người vợ chết, cũng chưa trả hết nợ.
Cho tới năm ấy Mị đã lớn, Mị là con gái đầu lòng. Thống lí Pá Tra đến bảo bố Mị:
- Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho.
Ông lão nghĩ năm nào cũng phải trả một nương ngô cho người ta, thì tiếc ngô, nhưng cũng lại thương con quá. Ông chưa biết nói thế nào thì Mị bảo bố rằng:
- Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu.
Đến Tết năm ấy, Tết thì vui chơi, trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Những nhà có con gái thì bố mẹ không thể ngủ được vì tiếng chó sủa. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách. Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị. Một đêm khuya, Mị nghe tiếng gõ vách. Tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu. Mị hồi hộp lặng lẽ quơ tay lên thì gặp hai ngón tay lách vào khe gỗ, sờ một ngón tay thấy có đeo nhẫn. Người yêu của Mị thường đeo nhẫn ngón tay ấy. Mị bèn nhấc tấm vách gỗ. Một bàn tay dắt Mị bước ra. Mị vừa bước ra, lập tức có mấy người choàng đến, nhét áo vào miệng Mị rồi bịt mắt, cõng Mị đi.
Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tài ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà này đến nhà khác, ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù đi hái củi, bung ngô, nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.
Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một cái cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng, Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.
(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo Dục, 2008, tr.6)
Xác định ngôi kể và phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên.
Chú ý lời của người kể chuyện
- Ngôi kể: Ngôi thứ ba
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.”
Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh
- So sánh Mị với “con rùa nuôi trong xó cửa” giúp tăng giá trị biểu cảm cho câu văn…
- Hình ảnh so sánh làm nổi bật nỗi khổ về cả thể xác lẫn tinh thần của cô gái miền núi….
🡪 Thái độ của tác giả…
Qua đoạn văn trên, em có suy nghĩ gì về vai trò của người phụ nữ trong xã hội hiện đại.
Đọc kĩ nội dung văn bản
Liên hệ thực tế
- Nhận thức: Người phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại…
- Hành động: Biết ơn, trân trọng, yêu thương những người phụ nữ xung quanh mình,…
Phần II. Viết
Viết đoạn văn khoảng 150 chữ nêu suy nghĩ của em về ý kiến: “Hạnh phúc bắt đầu từ những điều giản dị.”
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Hạnh phúc bắt đầu từ những điều giản dị
- Giải thích: Hạnh phúc là gì? Điều giản dị là gì? Ý kiến khẳng định điều gì?
- Bàn luận
+ Biểu hiện
+ Ý nghĩa
+ Phản đề
- Bài học liên hệ
1. Mở đoạn:
Dẫn dắt hoặc nêu trực tiếp: Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn được hạnh phúc. Một ý kiến rất sâu sắc cho rằng: “Hạnh phúc bắt đầu từ những điều giản dị.”
2. Thân đoạn:
- Giải thích:
+ Hạnh phúc là trạng thái vui vẻ, mãn nguyện trong tâm hồn.
+ “Những điều giản dị” là những điều nhỏ bé, gần gũi, đời thường như nụ cười, bữa cơm ấm cúng, lời quan tâm...
- Phân tích:
+ Hạnh phúc không nhất thiết phải từ điều to tát, xa hoa.
+ Biết trân trọng những điều giản dị sẽ giúp ta cảm thấy đủ đầy và bình yên hơn.
+ Chính những điều nhỏ bé ấy nuôi dưỡng tâm hồn, tạo nên niềm vui lâu bền.
3. Kết đoạn:
- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến.
- Bản thân em luôn cố gắng trân trọng những điều giản dị mỗi ngày để tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống.
Viết bài nghị luận khoảng 300 chữ phân tích nhân vật Mị trong đoạn văn ở phần Đọc hiểu.
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích
1. Phân tích nhân vật chính qua: Hoàn cảnh, lai lịch, hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, suy nghĩ nội tâm…
🡪 Từ đó thấy được Mị là cô gái hiếu thảo, chăm chỉ, cam chịu song lại có khát khao tự do…
2. Làm rõ số đặc sắc nghệ thuật
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc
- Ngôi kể
- Tình huống
- Giọng kể
Trong đoạn trích từ tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, nhân vật Mị hiện lên như một biểu tượng của số phận người phụ nữ miền núi dưới ách thống trị phong kiến và thực dân. Ban đầu, Mị hiện ra là một cô gái đẹp, chăm chỉ, có tâm hồn trong sáng và khát vọng tự do. Cô từng có tuổi trẻ tươi sáng, được nhiều chàng trai theo đuổi, sống giữa tiếng sáo gọi bạn tình đêm xuân – âm thanh gợi niềm vui sống và tình yêu.
Thế nhưng, cuộc đời Mị rẽ sang hướng khác khi bị bắt về làm dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Dù ban đầu cô có ý thức phản kháng (“Con phải làm nương ngô giả nợ cho bố”), nhưng cuối cùng vẫn bị biến thành nạn nhân của cường quyền. Những ngày tháng sau đó, Mị sống âm thầm như cái bóng, “lúc nào cũng vậy... mặt buồn rười rượi”, dường như đã tê liệt cảm xúc, không còn ý thức về thời gian hay thân phận.
Qua Mị, Tô Hoài không chỉ tố cáo tội ác của bọn thống trị miền núi, mà còn thể hiện sự xót xa, cảm thông với số phận người phụ nữ. Mị là hiện thân cho bao kiếp người chịu đọa đày, bị vùi lấp dưới gót giày của cường quyền, nhưng sâu bên trong vẫn le lói một tinh thần phản kháng – tiền đề cho sự trỗi dậy sau này.





