Đề thi giữa học kì 2 Văn 6 THCS Tân Sỏi (2024-2025)
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
SỰ TÍCH HOA CÚC TRẮNG
Ngày xưa, có một gia đình nghèo gồm hai mẹ con sống nương tựa vào nhau, cuộc sống của họ bình yên trong một ngôi nhà nhỏ. Người mẹ hàng ngày tần tảo làm lụng nuôi con. Người con thì cũng hiếu thảo, biết vâng lời mẹ và chăm chỉ học hành. Một ngày kia, người mẹ bỗng lâm bệnh nặng, mặc dù người con rất thương mẹ, chạy chữa biết bao thầy lang giỏi trong vùng cũng không chữa khỏi cho mẹ. Em buồn lắm, ngày ngày đều cầu phúc cho mẹ. Thương mẹ, người con quyết tâm đi tìm thầy nơi khác về chữa bệnh. Người con đi mãi, qua bao nhiêu làng mạc, núi sông, ăn đói mặc rách vẫn không nản lòng.
Đến một hôm, khi đi ngang qua một ngôi chùa, em xin nhà sư trụ trì được vào thắp hương cầu phúc cho mẹ. Lời cầu xin của em khiến trời nghe cũng phải nhỏ lệ, đất nghe cũng cúi mình. Lời cầu xin đó đến tai Đức Phật từ bi, Người cảm thương tấm lòng hiếu thảo đó của em nên đã tự mình hóa thân thành một nhà sư. Nhà sư đi ngang qua chùa và tặng em một bông hoa trắng rồi nói:
- Bông hoa này là biểu tượng của sự sống, là bông hoa chứa đựng niềm hi vọng, là ước mơ của loài người, là thần dược để chữa bệnh cho mẹ con, con hãy mang nó về chăm sóc. Nhưng phải nhớ rằng, cứ mỗi năm sẽ có một cánh hoa rụng đi và bông hoa có bao nhiêu cánh thì mẹ con chỉ sống được bấy nhiêu năm. Nói rồi nhà sư biến mất.
Em nhận bông hoa, cảm tạ Đức Phật, lòng em rất đỗi vui mừng. Nhưng khi đếm những cánh hoa, lòng em bỗng buồn trở lại khi biết rằng bông hoa chỉ có năm cánh, nghĩa là mẹ em chỉ sống được thêm với em có năm năm nữa. Thương mẹ quá, em nghĩ ra một cách, em liền liều xé nhỏ những cánh hoa ra thành nhiều cánh nhỏ, nhiều đến khi không còn đếm được bông hoa có bao nhiêu cánh nữa. Nhờ đó mà mẹ em đã khỏi bệnh và sống rất lâu bên người con hiếu thảo của mình. Bông hoa trắng với vô số cánh nhỏ đó đã trở thành biểu tượng của sự sống, là ước mơ trường tồn, là sự hiếu thảo của người con đối với mẹ, là khát vọng chữa lành mọi bệnh tật cho mẹ của người con. Ngày nay, bông hoa đó được người đời gọi là hoa cúc trắng.
(Trang 102, SGK Tiếng Việt lớp 1 tập 1, bộ sách KNTT)
Hãy xác định thể loại, phương thức biểu đạt, ngôi kể của văn bản trên.
Dựa vào đặc điểm nội dung, cách kể và người kể chuyện để xác định thể loại, phương thức biểu đạt, ngôi kể.
- Thể loại: Truyện cổ tích
- Phương thức biểu đạt: Tự sự
- Ngôi kể: Thứ 3
Tìm hai từ láy, hai từ ghép trong văn bản trên.
Đọc văn bản, xác định các từ có cấu tạo láy hoặc ghép giữa các tiếng có quan hệ về nghĩa.
- Hai từ láy: tần tảo, ngày ngày.
- Hai từ ghép: nương tựa, hiếu thảo.
Tìm hai trạng ngữ trong văn bản trên và chỉ ra tác dụng của các trạng ngữ đó.
Tìm các trạng ngữ và dựa vào ý nghĩa của chúng để xác định tác dụng.
- Trạng ngữ Ngày xưa: xác định thời gian xảy ra câu chuyện.
- Trạng ngữ Đến một hôm: xác định thời điểm xảy ra sự việc người con gặp nhà sư.
- Tác dụng: Giúp xác định thời gian, hoàn cảnh của sự việc, làm câu chuyện rõ ràng và mạch lạc hơn.
Giải thích nghĩa của từ: tần tảo, hiếu thảo.
Dựa vào ngữ cảnh sử dụng từ để giải thích nghĩa của từ.
- Tần tảo: chăm chỉ làm lụng, thu vén việc nhà…
- Hiếu thảo: Lòng kính yêu ông bà, cha mẹ…
Người con trong câu chuyện có những điểm tốt nào?
Dựa vào lời nói, hành động và việc làm của nhân vật để xác định những phẩm chất tốt.
Điểm tốt của nhân vật người con:
+ Hiếu thảo
+ Vâng lời mẹ
+ Chăm chỉ học hành
+ Thương mẹ
Qua câu chuyện em rút ra bài học gì (Trả lời bằng một đoạn văn 3-5 câu).
- Sử dụng ngôi kể thứ nhất
- Mở đầu câu chuyện.
- Diễn biến câu chuyện.
- Kết thúc câu chuyện.
Qua câu chuyện, em hiểu rằng tình yêu thương và lòng hiếu thảo đối với cha mẹ là những tình cảm vô cùng đáng quý. Mỗi người cần biết quan tâm, chăm sóc và biết ơn cha mẹ bằng những việc làm phù hợp. Khi gặp khó khăn, chúng ta cũng cần kiên trì, không dễ dàng bỏ cuộc. Em sẽ cố gắng học tập tốt và ngoan ngoãn để cha mẹ vui lòng.
Phần II. Viết
Em hãy kể lại một câu chuyện dân gian (truyền thuyết hoặc truyện cổ tích) bằng lời kể của nhân vật.
- Mở đầu: Giới thiệu bản thân và câu chuyện sẽ kể.
- Diễn biến: Kể lần lượt các sự việc chính theo trình tự hợp lí, kết hợp thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật.
- Kết thúc: Kết thúc câu chuyện và nêu suy nghĩ hoặc bài học rút ra.
Từ bao đời nay, những câu chuyện truyền thuyết Việt Nam vẫn sống mãi trong lòng người đọc bởi chứa đựng những giá trị cao đẹp về lịch sử và con người. Qua từng câu chuyện, ông cha ta đã gửi gắm niềm tự hào về lòng yêu nước, tinh thần bất khuất và khát vọng bảo vệ quê hương. Trong đó, em yêu thích nhất là truyền thuyết “Thánh Gióng” bởi hình ảnh người anh hùng nhỏ tuổi với sức mạnh phi thường đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc.
Ngày xưa, vào thời vua Hùng dựng nước, ở một ngôi làng nhỏ có hai vợ chồng già hiền lành, chăm chỉ nhưng mãi vẫn chưa có con. Một hôm, người vợ ra đồng nhìn thấy một dấu chân khổng lồ in trên nền đất. Vì tò mò, bà đặt thử chân mình vào dấu chân ấy rồi trở về nhà. Không lâu sau, bà sinh ra một cậu bé khôi ngô, đặt tên là Gióng. Nhưng điều kì lạ là lên ba tuổi, Gióng vẫn không biết nói, không biết cười, cũng chẳng biết đi. Cậu chỉ nằm yên trên chiếc giường tre, khiến ai nhìn thấy cũng cảm thấy vô cùng ngạc nhiên. Dù vậy, cậu bé vẫn được mẹ yêu thương, chăm sóc từng ngày trong căn nhà nhỏ bên làng quê yên bình.
Cuộc sống bình lặng ấy bỗng bị phá vỡ khi giặc Ân kéo quân sang xâm lược nước ta. Tiếng vó ngựa của quân thù vang lên khắp nơi, nhân dân rơi vào cảnh lo lắng, đau khổ. Nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài cứu nước. Khi tiếng rao của sứ giả vang đến làng, cậu bé Gióng bất ngờ cất tiếng nói đầu tiên: “Mẹ mời sứ giả vào đây cho con gặp!”. Ai nấy đều kinh ngạc. Gióng xin vua rèn cho một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt và một bộ áo giáp sắt để đánh giặc. Từ đó, cậu lớn nhanh như thổi, cơm ăn bao nhiêu cũng không đủ, quần áo vừa mặc đã chật. Cả làng cùng nhau góp gạo nuôi Gióng với niềm tin rằng cậu sẽ làm nên điều kì diệu.
Ngày ra trận, Gióng bỗng biến thành một tráng sĩ cao lớn, oai phong lẫm liệt. Chàng mặc áo giáp sắt sáng rực dưới ánh mặt trời, cưỡi con ngựa sắt phun lửa lao thẳng vào đội quân xâm lược. Tiếng vó ngựa vang lên như tiếng sấm giữa đất trời, khiến quân giặc khiếp sợ. Roi sắt trong tay Gióng vun vút quét sạch quân thù. Khi roi sắt gãy, chàng không hề lùi bước mà nhổ những bụi tre bên đường làm vũ khí tiếp tục chiến đấu. Cuối cùng, giặc Ân bị đánh tan, đất nước trở lại những ngày tháng bình yên. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Gióng cưỡi ngựa bay thẳng về trời, để lại hình ảnh người anh hùng bất tử trong lòng nhân dân.
Mỗi lần nhớ đến câu chuyện “Thánh Gióng”, em luôn cảm thấy tự hào và khâm phục trước lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm của người anh hùng làng Phù Đổng. Chi tiết khiến em ấn tượng nhất là hình ảnh Gióng vươn vai trở thành tráng sĩ, bởi đó chính là biểu tượng cho sức mạnh của nhân dân Việt Nam khi đất nước gặp nguy nan. Câu chuyện nhắc nhở em phải biết yêu quê hương, cố gắng học tập và rèn luyện để trở thành người có ích.





