Đề kiểm tra giữa kì 2 Ngữ văn 6 THCS Nguyễn Hiền (Phú Ninh) | (2023-2024)
FlashcardsHọc Flashcards
Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Tốc độĐấu trường tốc độ
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Phần I. Đọc hiểu
ẤN VÀNG KIẾM BẠC
Tương truyền ở một làng Ba Na thượng nguồn sông Côn từ ngàn xưa đã có một thanh gươm lạ […]. Lưỡi gươm cắm sâu sừng sững trên một tảng đá lớn nằm ven đường dẫn đến làng. Trải bao mưa nắng, lưỡi gươm vẫn sáng chói, không hề hoen rỉ.
Dân làng kể rằng, đây là thanh gươm quý trời ban cho người hiền tài trong thiên hạ để giúp dân dựng nước. Biết bao bàn tay tráng sĩ đã ướm vào chuôi gươm nhưng không một ai lay chuyển nổi. Đời này qua đời khác, chuôi gươm càng lên nước bóng loáng, lưỡi gươm càng chói như ánh mặt trời.
Cho đến ngày kia, có một người ngược dòng sông Côn tìm đến. Dân làng thấy người khách lạ tướng mạo khác thường, thông hiểu mọi lẽ trời đất, lại ăn nói có nghĩa có nhân, nên đem lòng kính phục, bèn dẫn tới chỗ thanh gươm báu. Đến nơi, trước mặt dân làng, người khách lễ tạ mọi người rồi bước lên tảng đá ướm bàn tay vạm vỡ của mình vào chuôi gươm. Khi cánh tay người đó vung mạnh thì hòn đá rung chuyển và cả thanh gươm quý hiện ra sáng loá trước mặt mọi người. Tráng sĩ có sức mạnh hơn người ấy chính là Nguyễn Huệ, vốn sinh cơ lập nghiệp ở Kiên Mỹ, theo anh ngược dòng sông Côn đi tìm người tài giỏi trong thiên hạ để mưu nghiệp lớn. Cảm phục tài năng, dân làng mời Nguyễn Huệ ở lại và mở tiệc khoản đãi.
Quanh làng thường xuất hiện một con gà to lớn khác thường sống đã lâu đời. Nhân ngày vui, dân làng bèn săn con gà làm thịt đãi khách quý. Khi mổ gà ra, người ta thấy trong bụng con vật có một cái ấn lớn bằng vàng. Dân làng tin rằng đây là điềm trời giúp Nguyễn Huệ lập nghiệp lớn, liền cung kính dâng cho Huệ. Cầm ấn vàng và kiếm bạc trong tay, Nguyễn Huệ nói với dân làng:
- Trời đã có ý trao cho ta ấn vàng kiếm bạc, ta sẽ quyết quy tụ giang sơn về một mối để khỏi phụ sự chờ mong của trăm họ và lượng cao dày của trời đất.
Nghe Nguyễn Huệ nói, ai cũng tỏ lòng muốn được theo anh em Tây Sơn dựng cờ nghĩa, xây nghiệp lớn. Nguyễn Huệ rất mừng, hỏi một già làng:
- Làng ta có bao nhiêu người?
Già làng đáp:
- Phía bắc thượng có 200 người, phía nam thượng có 200 người. Giữa làng là con sông chảy xiết, không ai dám qua lại thăm viếng nhau.
Nguyễn Huệ nghe nói vậy, liền đến con sông, rút gươm rạch đôi dòng nước đang chảy xiết. Lập tức, dòng nước rẽ ra hai bên để hiện ra một lối qua sông khá rộng. Từ đó, dân làng càng mang ơn Nguyễn Huệ. Họ hết lòng giúp đỡ ông và cho con cháu đi theo ngày càng đông.
(Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Văn học dân gian, những tác phẩm chọn lọc,
NXB Giáo dục, 2003, tr.118-119)
Truyện “Ấn vàng kiếm bạc” thuộc thể loại nào?
Truyện cổ tích
Truyện truyền thuyết
Truyện thần thoại
Truyện ngụ ngôn
Dựa vào đặc trưng thể loại
Giải chi tiết:
Để xác định loại truyện mà đoạn trích "ẤN VÀNG KIẾM BẠC" thuộc về, ta cần phân biệt các đặc điểm của các loại truyện dân gian sau:
- Truyện cổ tích: Thường kể về các nhân vật hư cấu, với các yếu tố thần kỳ, đề cao tính chất thiện, ác và công lý trong cuộc sống.
- Truyện truyền thuyết: Kể về các nhân vật lịch sử hoặc sự kiện lịch sử có thật, nhưng có thêm các yếu tố kỳ ảo, thần kỳ.
- Truyện thần thoại: Nói về các vị thần, sự hình thành thế giới, con người và các hiện tượng tự nhiên.
- Truyện ngụ ngôn: Được viết để truyền tải một bài học đạo đức hoặc giá trị qua hình ảnh động vật hoặc nhân vật hư cấu.
Xem xét các đặc điểm của đoạn trích:
- Đoạn trích kể về một nhân vật lịch sử có thật - Nguyễn Huệ.
- Có các yếu tố kỳ ảo như: thanh gươm có thể rạch đôi dòng nước, cái ấn vàng tìm thấy trong bụng gà.
- Nội dung có xuất hiện sự kiện lịch sử liên quan đến việc Nguyễn Huệ quy tụ giang sơn.
Dựa vào các đặc điểm trên, đoạn trích "ẤN VÀNG KIẾM BẠC" thuộc thể loại truyện truyền thuyết, vì:
- Nhân vật trong truyện là Nguyễn Huệ - một nhân vật lịch sử có thật.
- Truyện có sử dụng yếu tố kỳ ảo để tôn vinh nhân vật lịch sử này.
Đáp án đúng là: B. Truyện truyền thuyết
Chú ý khi giải:
- Lưu ý đặc điểm của từng thể loại truyện dân gian để có thể phân loại chính xác.
- Khi gặp một đoạn trích, cần chú ý các yếu tố đặc trưng như nhân vật có thật, yếu tố kỳ ảo, có bài học đạo đức hay không.
- Đặc biệt với truyện truyền thuyết, cần nhận ra nhân vật và sự kiện lịch sử được đề cập và có yếu tố thần kỳ hay không.
Truyện được kể theo ngôi thứ mấy?
Ngôi kể thứ nhất
Ngôi thứ nhất kết hợp ngôi thứ ba
Ngôi kể thứ ba
Ngôi kể thứ ba số nhiều
Chú ý lời của người kể chuyện
Lời giải chi tiết:
Để xác định ngôi kể trong một văn bản, chúng ta cần phân tích cách mà câu chuyện được kể cũng như ai là người kể.
- Ngôi kể thứ nhất: Người kể chuyện xưng “tôi”, "mình" và tham gia trực tiếp vào sự kiện trong câu chuyện.
- Ngôi kể thứ hai: Người đọc xưng “bạn” - thường ít gặp.
- Ngôi kể thứ ba: Người kể không tham gia trực tiếp vào câu chuyện mà chỉ kể lại các sự kiện, dùng các đại từ như "anh ta", "cô ấy"...
- Ngôi kể thứ ba số nhiều: Tương tự ngôi thứ ba nhưng dùng "họ", "chúng tôi" để nói về nhiều người.
Dựa vào đoạn văn, kể từ "Tương truyền ở một làng Ba Na..." đến "ngày càng đông." người kể thuật lại toàn bộ các sự kiện xảy ra từ ngàn xưa ở một làng Ba Na. Người kể không tham gia trực tiếp vào các sự kiện mà chỉ thuật lại những gì đã xảy ra. Đáng chú ý hơn, các đại từ nhân xưng được sử dụng là "Họ", "Người ta", "Nguyễn Huệ", "Dân làng", thể hiện cách kể dưới góc nhìn của người kể thứ ba.
Do đó, đoạn văn này được kể theo ngôi thứ ba.
Đáp án đúng là C. Ngôi kể thứ ba.
-
Ngôi kể là yếu tố quan trọng giúp xác định góc nhìn và cách truyền tải câu chuyện. Ngôi kể thứ nhất thường khiến câu chuyện trở nên gần gũi hơn, trong khi ngôi kể thứ ba làm cho các sự kiện khách quan và có tính toàn diện hơn.
-
Khả năng thay đổi ngôi kể trong cùng một tác phẩm sẽ tạo ra sự linh hoạt về góc nhìn, nhưng đôi khi nó cũng có thể làm người đọc cảm thấy khó hiểu nếu không được thực hiện cẩn thận.
Dãy từ nào sau đây đều là từ Hán Việt?
Hiền tài, thiên hạ, dân làng
Thiên hạ, tráng sĩ, lập nghiệp
Quy tụ, chờ mong, khoản đãi
Giang sơn, già làng, cung kính
Vận dụng kiến thức về từ Hán Việt
Để giải quyết bài tập này, chúng ta cần xác định phương án có các từ mà nghĩa của chúng không liên quan đến nhau trong ngữ cảnh đoạn văn trên. Hãy xem từng phương án:
A. Hiền tài, thiên hạ, dân làng
- Hiền tài: chỉ người có tài năng và đức độ.
- Thiên hạ: chỉ mọi người, bốn phương trong thiên hạ.
- Dân làng: chỉ cộng đồng người sống trong một làng.
Nghĩa của ba từ này trong ngữ cảnh trên giúp mô tả nhân vật và bối cảnh của câu chuyện: người hiền tài nhận kiếm để giúp thiên hạ và dân làng.
B. Thiên hạ, tráng sĩ, lập nghiệp
- Thiên hạ: đã được giải thích ở trên.
- Tráng sĩ: chỉ người có sức mạnh và dũng cảm.
- Lập nghiệp: chỉ việc xây dựng cuộc sống hay sự nghiệp.
Các từ này liên quan đến những người có mộng lớn, lập nghiệp để giúp thiên hạ.
C. Quy tụ, chờ mong, khoản đãi
- Quy tụ: chỉ việc gom lại, tập hợp.
- Chờ mong: chỉ sự kỳ vọng, mong mỏi.
- Khoản đãi: chỉ việc tiếp đãi trọng thị.
Các từ này không liên kết chặt chẽ với nhau. "Quy tụ" và "chờ mong" có liên quan, nhưng "khoản đãi" chỉ đơn thuần liên quan đến việc tổ chức buổi lễ.
D. Giang sơn, già làng, cung kính
- Giang sơn: chỉ đất nước, thường chỉ toàn bộ lãnh thổ của một quốc gia.
- Già làng: chỉ người cao tuổi trong làng, có uy tín và kinh nghiệm.
- Cung kính: chỉ thái độ tôn trọng lớn đối với người khác.
Các từ này đều liên quan đến xã hội và lãnh đạo địa phương.
Suy ra, phương án C là phương án đúng vì nghĩa của các từ "Quy tụ, chờ mong, khoản đãi" không liên kết chặt chẽ với nhau trong ngữ cảnh cho trước.
Khi giải quyết bài tập này, các em cần chú ý:
- Đọc kỹ đề và nắm rõ từng phương án để tìm ra sự khác biệt về nghĩa giữa các từ trong một phương án.
- Xem xét ngữ cảnh của dựa trên câu chuyện để xác định nghĩa của từng từ được đặt.
- Chú ý đến sự kết nối giữa các từ trong một phương án để tìm ra sự không liên kết.
Từ gạch chân trong câu văn: “Lưỡi gươm cắm sâu sừng sững trên một tảng đá lớn nằm ven đường dẫn đến làng.” là:
từ ghép.
từ nhiều nghĩa.
từ đồng âm.
từ láy.
Vận dụng kiến thức về từ láy
Để giải quyết câu hỏi này, chúng ta cần phân loại từ "sừng sững" trong câu văn "Lưỡi gươm cắm sâu sừng sững trên một tảng đá lớn nằm ven đường dẫn đến làng.".
Sừng sững là từ diễn tả tư thế vững vàng, không lay chuyển, thường dùng để miêu tả sự đứng vững chắc, hiên ngang của một đối tượng nào đó.
Hãy phân tích từng lựa chọn:
- A. Từ ghép: Là từ có thể chia thành các yếu tố cấu thành nhưng "sừng sững" là một từ cố định, không ghép từ các nghĩa riêng biệt thành một.
- B. Từ nhiều nghĩa: Là từ có một nghĩa gốc và phát triển ra nhiều nghĩa khác nhau, ví dụ như từ "đầu" có nhiều nghĩa trong các ngữ cảnh khác nhau. "Sừng sững" không phải từ nhiều nghĩa.
- C. Từ đồng âm: Là từ có âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau, "sừng sững" không có nghĩa khác nào đáng chú ý.
- D. Từ láy: Là từ có âm đầu hoặc âm cuối của các yếu tố cấu tạo giống nhau, và "sừng sững" là từ láy vì nó lặp lại âm đầu "s" và cả hai yếu tố đều có âm giống nhau.
Vì vậy, đáp án đúng là D. Từ láy.
Thành ngữ “sinh cơ lập nghiệp” trong câu văn: “Tráng sĩ có sức mạnh hơn người ấy chính là Nguyễn Huệ, vốn sinh cơ lập nghiệp ở Kiên Mỹ” có nghĩa là:
xây dựng cuộc sống, cơ đồ, sự nghiệp.
xây dựng cuộc sống hạnh phúc.
xây dựng mái ấm gia đình yên vui.
xây dựng bản làng bình yên.
Dựa vào ngữ cảnh để giải thích nghĩa của từ
Phân tích đề bài:
Đề bài đưa ra một đoạn văn kể chuyện về bối cảnh có thanh kiếm quý được trao cho người tài giỏi, và từ đó, người này đã xây dựng sự nghiệp lớn, cụ thể là Nguyễn Huệ. Đoạn trích nhấn mạnh đến việc Nguyễn Huệ nhận ấn vàng và kiếm bạc, rồi tuyên bố sẽ quy tụ giang sơn, cùng với sự ủng hộ của dân làng để dựng cờ nghĩa, xây dựng sự nghiệp lớn lao. Từ đó có thể suy ra chủ đề chính của đoạn văn là về sự xây dựng sự nghiệp lớn lao.
Lập luận và phân tích phương án:
- A. Xây dựng cuộc sống, cơ đồ, sự nghiệp: Đây là phương án đúng. Đoạn văn nói về việc Nguyễn Huệ dùng thanh gươm và ấn vàng để đoàn kết dân, dựng cờ nghĩa và xây dựng sự nghiệp vĩ đại bằng việc thống nhất đất nước. Phương án này phản ánh đúng nội dung và ý nghĩa của đoạn văn.
- B. Xây dựng cuộc sống hạnh phúc: Phương án này chưa hoàn toàn đúng với ý nghĩa chính của đoạn văn. Đoạn văn không tập trung nói về hạnh phúc cá nhân hay đời sống thường nhật mà chủ yếu nói về sự nghiệp lớn lao.
- C. Xây dựng mái ấm gia đình yên vui: Đây là phương án không đúng. Đoạn văn không đề cập đến việc xây dựng mái ấm gia đình hay vấn đề đời sống gia đình cá nhân.
- D. Xây dựng bản làng bình yên: Phương án này chỉ phản ánh một phần nhỏ nội dung, chứ không phải trọng tâm của câu chuyện. Trọng tâm là sự nghiệp của Nguyễn Huệ là quy tụ giang sơn về một mối, không chỉ nằm ở việc xây dựng bản làng yên bình.
Chú ý khi giải:
- Học sinh cần nắm rõ nội dung của đoạn văn trước khi lựa chọn đáp án, vì từ nội dung chi tiết có thể suy ra ý nghĩa cốt lõi.
- Xác định từ khóa trong câu chuyện, ví dụ: "ấn vàng", "kiếm bạc", "quy tụ giang sơn", "dựng cờ nghĩa" để tìm ra hướng đi chính của nội dung.
- Các đáp án cần được so sánh với trọng tâm câu chuyện để loại bỏ những ý không phù hợp.
Câu nói của Nguyễn Huệ: “Trời đã có ý trao cho ta ấn vàng kiếm bạc, ta sẽ quyết quy tụ giang sơn về một mối để khỏi phụ sự chờ mong của trăm họ và lượng cao dày của trời đất.” được nói với dân làng thể hiện điều gì?
Thể hiện tinh thần yêu nước, thương dân của vị anh hùng Nguyễn Huệ.
Thể hiện niềm yêu thích của Nguyễn Huệ trước thanh gươm báu.
Thể hiện sự biết ơn sâu sắc của Nguyễn Huệ đối với dân làng.
Thể hiện ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc, thống nhất giang sơn của Nguyễn Huệ.
Dựa vào ngữ cảnh để giải thích
Để giải quyết câu hỏi này, chúng ta cần phân tích đoạn trích và các phương án được đưa ra:
- Phương án A: "Thể hiện tinh thần yêu nước, thương dân của vị anh hùng Nguyễn Huệ". Tuy nhiên, đoạn trích nói đến việc nhận thanh kiếm và ấn vàng như biểu tượng và ý chí quyết chí quy tụ giang sơn. Không trực tiếp nhắc tới tinh thần yêu nước, thương dân nhưng có thể được hiểu gián tiếp qua hành động của Nguyễn Huệ.
- Phương án B: "Thể hiện niềm yêu thích của Nguyễn Huệ trước thanh gươm báu". Nội dung tập trung vào sự kiện nhận kiếm và ấn vàng như điềm báo cho sự nghiệp lớn, không chỉ thể hiện thích thú.
- Phương án C: "Thể hiện sự biết ơn sâu sắc của Nguyễn Huệ đối với dân làng". Trong đoạn trích, Nguyễn Huệ được dân làng cung kính và đã nhận thanh kiếm, tỏ lòng biết ơn nhưng không phải là ý chính nổi bật xuyên suốt.
- Phương án D: "Thể hiện ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc, thống nhất giang sơn của Nguyễn Huệ". Đoạn trích nhấn mạnh vào vai trò của kiếm và ấn như biểu tượng cho sứ mệnh lớn nhưng Nguyễn Huệ đã bày tỏ ý chí và kế hoạch lớn lao với thanh kiếm và ấn – điều đó thể hiện quyết tâm tiêu diệt giặc, thống nhất giang sơn.
Trong bốn phương án trên, phương án D là sự lựa chọn hợp lý nhất vì nội dung chủ yếu được nhấn mạnh qua việc nhận thanh kiếm, ấn vàng và phát biểu quyết tâm của Nguyễn Huệ.
Trả lời: D. Thể hiện ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc, thống nhất giang sơn của Nguyễn Huệ.
Khi giải các bài như thế này, học sinh cần chú ý:
- Đọc kỹ đoạn văn, cố gắng nắm bắt ý chính của cả đoạn để xác định nội dung cốt lõi.
- Phân tích từng lựa chọn: so sánh, đối chiếu với nội dung đoạn văn để đưa ra lựa chọn chính xác nhất.
- Chú ý đến chi tiết tâm lý và hành động của nhân vật, điều đó có thể giúp bạn hiểu rõ ý chính mà tác giả muốn truyền tải.
Nội dung của văn bản trên là gì?
Nguyễn Huệ nhận được ấn vàng, kiếm bạc, xây dựng nghiệp lớn.
Nguyễn Huệ được dân làng trao tặng ấn vàng, kiếm bạc.
Dân làng đi tìm người anh hùng để trao ấn vàng, kiếm bạc.
Ấn vàng, kiếm bạc giúp Nguyễn Huệ chiến thắng kẻ thù.
Đọc kĩ văn bản
Đề bài yêu cầu tìm ý chính của đoạn văn kể về truyền thuyết Nguyễn Huệ và việc nhận được ấn vàng, kiếm bạc. Đây là đoạn văn có yếu tố truyền thuyết, mô tả một sự kiện huyền thoại liên quan đến Nguyễn Huệ—một nhân vật lịch sử nổi tiếng. Dựa vào nội dung đã cho, chúng ta cần phân tích từng phương án để tìm ra ý chính.
- A. Nguyễn Huệ nhận được ấn vàng, kiếm bạc, xây dựng nghiệp lớn.
Phương án này mô tả sự kiện Nguyễn Huệ nhận được ấn vàng, kiếm bạc và từ đó có kế hoạch xây dựng sự nghiệp lớn. Nội dung này có xuất hiện ở đoạn cuối khi Nguyễn Huệ phát biểu về việc quy tụ giang sơn. - B. Nguyễn Huệ được dân làng trao tặng ấn vàng, kiếm bạc.
Phương án này chỉ nhắc đến việc dân làng dâng tặng ấn vàng, kiếm bạc mà không xét đến việc Nguyễn Huệ được trời ban tặng hay việc Nguyễn Huệ có kế hoạch lớn lao gì sau khi nhận ấn vàng, kiếm bạc. - C. Dân làng đi tìm người anh hùng để trao ấn vàng, kiếm bạc.
Phương án này không chính xác vì trong đoạn văn không nhắc đến việc dân làng chủ động đi tìm người anh hùng, mà chỉ mô tả việc tình cờ có một người đi ngược dòng sông Côn đến làng và dân làng đã trao gươm cho người ấy sau khi thấy người ấy tướng mạo khác thường. - D. Ấn vàng, kiếm bạc giúp Nguyễn Huệ chiến thắng kẻ thù.
Phương án này không đúng vì trong truyền thuyết không đề cập một trận chiến cụ thể mà chỉ nói đến lý trí và mục đích lớn của Nguyễn Huệ sau khi nhận ấn vàng, kiếm bạc.
Sau khi phân tích các phương án, có thể thấy phương án A. Nguyễn Huệ nhận được ấn vàng, kiếm bạc, xây dựng nghiệp lớn là phù hợp nhất với nội dung đã đọc.
Khi giải bài này, các em cần lưu ý:
- Hiểu rõ yêu cầu của câu hỏi là tìm ý chính của đoạn văn.
- Chú ý đến từng chi tiết trong đoạn văn và xem xét cách mà các sự kiện được trình bày để xác định ý chính của câu chuyện.
- Đọc kỹ từng phương án, xem phương án nào tổng quát hóa được toàn bộ nội dung cần truyền tải của đoạn văn.
Chỉ ra và nêu tác dụng của một chi tiết kì ảo có trong truyện.
Xác định yếu tố kì ảo trong truyện
- Thanh gươm lạ, lưỡi gươm cắm sừng sững trên tảng đá lớn, trải mưa nắng vẫn sáng chói, không hề hoen rỉ.
- Đây là thanh gươm quý trời ban cho người hiền tài trong thiên hạ
- Khi cánh tay người đó vung mạnh thì hòn đá rung chuyển và cả thanh gươm quý hiện ra sáng loá trước mặt mọi người.
- Khi mổ gà ra, người ta thấy trong bụng con vật có một cái ấn lớn bằng vàng
- Nguyễn Huệ nghe nói vậy, liền đến con sông, rút gươm rạch đôi dòng nước đang chảy xiết. Lập tức, dòng nước rẽ ra hai bên để hiện ra một lối qua sông khá rộng.
Tác dụng:
- Chi tiết kì ảo giúp câu chuyện li kì và hấp dẫn hơn.
- Góp phần thể hiện sức mạnh, phẩm chất, tài năng của nhân vật.
- Mang âm hưởng ngợi ca người anh hùng…
- Thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa…
Theo em, vì sao chỉ có Nguyễn Huệ mới là người nhận được ấn vàng, kiếm bạc?
Dựa vào ngữ cảnh truyện
- Chỉ có Nguyễn Huệ mới là người nhận được ấn vàng kiếm bạc vì ông là người:
+ Có sức mạnh hơn người;
+ Có trí tuệ, tài năng;
+ Có lòng nhân nghĩa;
+ Giúp dân cứu nước, thống nhất giang sơn.
+ …………………..
Văn bản đã khơi gợi trong em những tình cảm nào với vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ? (Trình bày bằng đoạn văn ngắn khoảng 3 -5 câu).
Liên hệ bản thân
- Chỉ có Nguyễn Huệ mới là người nhận được ấn vàng kiếm bạc vì ông là người:
+ Có sức mạnh hơn người;
+ Có trí tuệ, tài năng;
+ Có lòng nhân nghĩa;
+ Giúp dân cứu nước, thống nhất giang sơn.
+ …………………..
Phần II. Viết
Hãy đóng vai một nhân vật trong truyện truyền thuyết hoặc cổ tích mà em biết ngoài sách giáo khoa để kể lại câu chuyện.
a. Đảm bảo cấu trúc một bài văn kể chuyện,
b. Xác định đúng đề bài: Đóng vai nhân vật kể lại một câu chuyện cổ tích hoặc truyền thuyết. (Sử dụng ngôi kể thứ nhất)
c. Triển khai bài kể chuyện theo đúng diễn biến phù hợp với ngôi kể. Có thể triển khai theo hướng sau:
- Mở bài: Giới thiệu nhân vật và câu chuyện sẽ kể.
- Thân bài: Kể lại diễn biến câu chuyện theo ngôi kể thứ nhất.
(Chú ý: sử dụng đúng ngôi kể, thay đổi lời kể cho phù hợp)
- Kết bài: Rút ra bài học hoặc lời khuyện từ câu chuyện.
d. Chính tả, ngữ pháp: Chữ viết cẩn thận, rõ ràng, bài văn trình bày sạch sẽ, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt..
e. Sáng tạo: cách diễn đạt độc đáo, có lời kể sáng tạo, hấp dẫn.
Tôi tên Thạch Sanh. Tôi vốn là con trai của Ngọc Hoàng, được phái xuống trần làm con trong một gia đình người nông dân hiền lành. Từ lúc mới sinh ra, cha tôi đã qua đời. Vài năm sau, mẹ tôi cũng mất. Kể từ đó, tôi sống một mình dưới gốc đa. Tài sản lớn nhất của tôi là lưỡi rìu mà cha để lại. Tôi còn được thiên thần dạy cho đủ loại võ nghệ cao cường.
Một hôm, tôi đang ngồi dưới gốc đa thì có người đến hỏi. Anh ta xưng là Lí Thông, làm nghề bán rượu. Anh ta còn đề nghị kết nghĩa huynh đệ với tôi. Mồ côi cha mẹ, lại thiếu thốn tình thương từ nhỏ, tôi liền đồng ý ngay. Tôi dọn đến nhà sống cùng với mẹ con Lí Thông. Hằng ngày, tôi lên rừng kiếm củi, còn Lí Thông đi bán rượu. Tôi thường tự nguyện làm giúp việc nhà.
Bỗng lần nọ, tôi đi kiếm củi trở về thì thấy trong nhà đã bày sẵn rượu thịt. Hai anh em tôi vừa ăn, vừa trò chuyện. Anh Lí Thông nói với tôi:
- Đêm nay đến lượt anh đi canh miếu thờ, nhưng còn mẻ rượu chưa xong. Vậy em chịu khó đi thay cho anh một đêm, đến sáng lại về.
Tôi nghe vậy liền đồng ý. Đêm đó, tôi đang nằm lim dim ngủ. Bỗng nhiên, một con chằn tinh lao đến định ăn thịt tôi. Tôi cầm lấy rìu đánh nhau với con quái vật. Chẳng bao lâu, lưỡi rìu của tôi đã xé xác con chằn tinh làm đôi. Con quái vật hiện nguyên hình là một con trăn khổng lồ. Tôi chặt đầu con quái vật đem về.
Khi về đến nhà, tôi gọi anh Lí Thông. Nhưng chẳng có ai ra mở cửa. Tôi chỉ nghe thấy tiếng mẹ con anh Lí Thông van xin tha mạng. Tôi lấy làm lạ, liền nói:
- Anh Lí Thông ơi, em là Thạch Sanh đây. Mau mở cửa cho em!
Lúc này, Lí Thông liền ra mở cửa. Tôi kể lại rõ mọi sự tình. Sau đó, anh ta nói với tôi:
- Đó là con vật nuôi của vua, giết nó là mang tội. Nhân lúc trời còn chưa sáng, em hãy trốn đi. Mọi việc để anh giải quyết.
Tôi từ biệt Lí Thông rồi trốn về gốc đa cũ. Một hôm, tôi đang ngồi dưới gốc đa thì nhìn thấy con đại bàng rất to đang quắp một cô gái. Tôi liền lấy cung tên bắn nó bị thương, rồi lần theo vết máu thì tìm ra hang của đại bàng.
Mấy ngày sau, dân làng mở hội rất đông vui. Tôi đến xem thì tình cờ gặp được Lí Thông. Anh ta kể cho tôi nghe việc đang tìm đại bàng để cứu công chúa. Tôi đã kể lại mọi việc cho Lí Thông nghe. Đến hang, tôi xin xuống trước. Tôi đánh nhau với đại bàng, cứu được công chúa. Nhưng Lí Thông đã ra lệnh cho quân sĩ vần đá lớn lấp kín cửa hang lại, rồi kéo nhau về.
Tôi nhận ra mình đã bị Lí Thông lừa, đành đi khắp hang để tìm lối ra. Đến cuối hang thì thấy một chàng trai bị nhốt trong cũi sắt. Tôi lấy dùng cung tên bắn tan cũi sắt cứu chàng trai. Hỏi ra mới biết chàng là con trai của vua Thủy tề. Sau đó, tôi được mời xuống Thủy cung chơi. Trước khi trở về, vua Thủy Tề còn tặng cho tôi một một cây đàn thần.
Về đến nơi, chưa rõ sự tình ra sao, tôi đã bị đám lính canh bắt vào ngục với tội ăn cắp rồi bị bắt giam vào ngục. Ở trong ngục, tôi lấy cây đàn được vua Thủy Tề tặng ra đánh. Có lẽ nhà vua nghe được tiếng đàn nên đã cho người giải tôi đến. Lí Thông cũng có mặt. Tôi đem hết mọi chuyện xảy ra kể cho vua nghe. Nhà vua giao Lí Thông cho tôi trừng trị và hứa sẽ gả công chúa cho tôi. Nể tình xưa, tôi tha cho Lí Thông được trở về quê cũ.
Lễ cưới được tổ chức linh đình thì hoàng tử các nước chư hầu trước kia bị công chúa từ hôn đem quân sang đánh. Tôi đem đàn ra gảy, tiếng đàn của tôi vừa cất lên đã khiến quân sĩ mười tám nước bủn rủn chân tay xin hàng. Tôi sai người nấu cơm thiết đãi binh sĩ. Thấy niêu cơm bé xíu, họ tỏ ý coi thường. Nhưng họ cứ ăn mãi vẫn không hết niêu cơm, mới phục rồi kéo nhau về nước. Sau này, nhà vua không có con trai nên đã truyền ngôi cho tôi.





