Đề thi cuối học kì 1 Sở GD&ĐT Bắc Giang (2024-2025)
Phần I. Đọc hiểu
Đọc truyện cười sau và thực hiện các yêu cầu:
KHÔNG CẦN HỌC NỮA
Một lão nhà giàu đã dốt lại hà tiện. Con đã lớn mà không cho đi học, sợ tốn tiền. Một ông khách thấy vậy, hỏi:
- Sao không cho thằng nhỏ đi học trường?
- Cho cháu đến trường, sợ học trò lớn bắt nạt.
- Thì rước thầy về nhà cho cháu học vậy!
- Nó chưa có trí, biết nó có học được hay không?
- Có khó gì, thầy sẽ tuỳ theo sức nó mà dạy. Nay dạy chữ nhất là một, một gạch, qua ngày mai, dạy nó chữ nhị là hai, hai gạch, qua bữa mốt, dạy nó chữ tam là ba, ba gạch, lần lần như vậy thì cháu phải biết chữ.
Khách ra về, thằng con mới bảo cha:
- Thôi, cha đừng rước thầy về tốn kém. Mấy chữ ấy con không học cũng biết rồi... Con nghe qua là đã thuộc!
Người cha bảo nó viết chữ nhất, chữ nhị, chữ tam, nó viết được cả, ông ta khen con sáng dạ, không mời thầy về nữa. Một hôm, người cha bảo nó viết chữ vạn[1]. Nó thủng thẳng ngồi viết, viết mãi đến chiều tối cũng chưa xong. Người cha mắng:
- Viết gì mà lâu thế?
Nó thưa.
- Chữ vạn dài lắm bố ạ! Con viết hơn nửa ngày mà được nửa chữ thôi!
(Trích Bình giảng truyện cười, Nguyễn Việt Hùng,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.99-100)
Nhân vật chính trong truyện cười trên là ai?
Đọc toàn bộ truyện, xác định nhân vật trung tâm, xuất hiện xuyên suốt và giữ vai trò chính trong việc tạo nên nội dung câu chuyện.
Nhân vật chính trong câu chuyện là lão nhà giàu (người cha).
Vì sao người con trong truyện cười trên đã lớn mà người cha không cho đi học?
Đọc kĩ phần mở đầu của truyện; tìm chi tiết nêu trực tiếp lí do người cha không cho con đi học.
Lí do người con đã lớn mà người cha không cho đi học: người cha hà tiện, sợ tốn tiền
Yếu tố gây cười của câu chuyện thể hiện rõ nhất ở câu nói nào?
Xác định chi tiết hoặc lời nói tạo nên tiếng cười; chọn câu nói bộc lộ rõ nhất sự ngây ngô, phi lí của nhân vật.
Yếu tố gây cười của câu chuyện thể hiện rõ nhất ở câu nói: Chữ vạn dài lắm bố ạ! Con viết hơn nửa ngày mà được nửa chữ thôi!
Từ “hà tiện” trong câu văn: “Một lão nhà giàu đã dốt lại hà tiện.” có nghĩa như thế nào?
Dựa vào ngữ cảnh của câu văn và nghĩa thông thường của từ để giải thích từ ngữ được yêu cầu.
nghĩa của từ “hà tiện” trong câu văn: “Một lão nhà giàu đã dốt lại hà tiện.”: keo kiệt, bủn xỉn, không muốn chi tiêu hoặc dùng tiền ngay cả khi cần thiết, dù có khả năng.
Tại sao cậu bé trong truyện mất nhiều thời gian vẫn viết chưa xong chữ “vạn”?
Dựa vào diễn biến câu chuyện và lời nói của cậu bé để giải thích nguyên nhân dẫn đến tình huống gây cười.
Nguyên nhân khiến cậu bé trong truyện mất nhiều thời gian vẫn viết chưa xong chữ “vạn”:
+ Cậu hiểu nhầm rằng chữ “vạn” phải được viết bằng cách vẽ liên tiếp rất nhiều gạch, tương ứng với số lượng mười nghìn, thay vì viết đúng ký tự chữ Hán.
+ Cậu bé chưa được học đúng cách (cha không cho cậu đi học ở trường và cũng không mời thầy về dạy tại nhà. Do đó, cậu bé chỉ tự học qua những gì nghe thấy và hiểu theo cách của mình).
Qua câu chuyện, tác giả dân gian muốn phê phán thói xấu nào của con người?
Khái quát nội dung và ý nghĩa của truyện; xác định thói xấu mà tác giả dân gian muốn phê phán thông qua các nhân vật.
Qua văn bản, tác giả dân gian muốn phê phán thói xấu của con người:
+ Thiếu hiểu biết, nghĩ rằng không cần học cũng biết.
+ Thói keo kiệt, hà tiện, không đầu tư cho việc học hành, dẫn đến sự dốt nát và tình huống trớ trêu.
Giả sử là một người trực tiếp chứng kiến cuộc đối thoại của hai cha con trong câu chuyện trên, em sẽ nói gì để người cha hiểu được tầm quan trọng của việc cho con đến trường học tập? (Trả lời khoảng 5-7 dòng)
Đặt mình vào tình huống là người chứng kiến câu chuyện; dùng lí lẽ thuyết phục để giúp người cha nhận ra ý nghĩa của việc học đối với con.
Giải thích với người cha rằng việc đến trường học tập giúp người con được học tập, phát triển toàn diện; được học tập một cách khoa học, có hệ thống, có phương pháp phù hợp; được giao lưu, kết nối với bạn bè, thầy cô,…
Phần II. Viết
Là con thì phải tuyệt đối nghe lời cha mẹ.
Là một người con, em suy nghĩ thế nào về quan điểm trên? Hãy viết một bài văn nghị luận để bày tỏ ý kiến của mình.
- Xác định yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một quan điểm.
- Giới thiệu quan điểm và nêu ý kiến đồng tình, phản đối hoặc đồng tình một phần.
- Giải thích quan điểm; trình bày lí lẽ, dẫn chứng để bảo vệ ý kiến; bàn luận về cách ứng xử đúng của người con đối với cha mẹ và liên hệ bản thân.
- Khẳng định lại quan điểm và rút ra bài học
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
(1) Trình bày được ý hiểu của bản thân về ý kiến
- Tuyệt đối nghe lời cha mẹ: Chỉ việc con cái hoàn toàn nghe theo ý kiến chỉ bảo, tuân theo những định hướng, chỉ dẫn của bậc sinh thành.
- Là con thì phải tuyệt đối nghe lời cha mẹ: Đây là quan niệm của nhiều người trong xã hội. Quan niệm này xem việc con cái nghe lời cha mẹ là lẽ đương nhiên, là điều bắt buộc.
(2) Bày tỏ được quan điểm của bản thân và lập luận thuyết phục: đồng tình hoặc phản đối ý kiến
- Nếu đồng tình, có thể lập luận:
+ Nghe lời cha mẹ là một biểu hiện của lòng hiếu thảo.
+ Cha mẹ là những người hết lòng quan tâm, mong muốn dành những điều tốt đẹp cho con mình. Do đó những lời khuyên bảo, chỉ dẫn của cha mẹ sẽ giúp con cái sống có định hướng, tránh được những rủi ro…
+ Khiến cho tình cảm gia đình trở nên gắn bó; mang lại niềm vui, sự an tâm cho cha mẹ.
- Nếu không đồng tình, có thể lập luận:
+ Tuyệt đối nghe lời có thể khiến con cái lệ thuộc vào cha mẹ; mất đi khả năng tự lập, sáng tạo, chủ động trong cuộc sống của mình.
+ Cha mẹ và con cái thường có khoảng cách nhất định về tuổi tác, tâm lý, trình độ… Do đó không phải điều gì cha mẹ khuyên bảo cũng phù hợp với con cái. Có khi quan điểm, lựa chọn, quyết định của cha mẹ hoàn toàn trái ngược với con cái, với xu hướng của xã hội,… thì con cái cần trao đổi, phản biện, thể hiện nguyện vọng, quan điểm của mình để có thể đi đến thống nhất với cha mẹ.
- Nếu vừa đồng tình vừa không đồng tình: có thể kết hợp hài hòa những cách lập luận trên.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận và liên hệ bản thân.





