Đề thi học kì 1 Ngữ văn 8 THCS Lương Thế Vinh (2025-2026)
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
MÀU HOA MẶT TRỜI
- Bình Nguyên Trang -
Sáng mai cành non dậy sớm
Vươn vai đón ánh mặt trời
Hoa đào ngậm sương chờ đợi
Cơn gió khẽ khàng hôn cây.
Đã nghe biêng biếc màu mây
Đã nghe rì rào cỏ hát
Đã nghe dịu dàng nốt nhạc
Bầy chim di trú trở về.
Đã nghe náo nức đường quê
Tiếng bàn chân yên ả bước
Phải mùa xuân về đêm trước
Trải xanh lên ngút ngàn đồi.
Có tiếng chim nào vừa rơi
Làm loang bến đò say ngủ
Ôi cô bé quàng khăn đỏ
Đi đón màu hoa mặt trời
(“Bài hát ngày trở về”- Nhà xuất bản Văn học)
Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Nhận xét về cách gieo vần trong khổ thơ thứ nhất.
Đếm số tiếng trong mỗi dòng thơ để xác định thể thơ; quan sát tiếng cuối các dòng thơ để nhận xét cách gieo vần.
- Thể thơ sáu chữ
- Nhận xét về cách gieo vần trong khổ thơ thứ nhất: gieo vần chân (VD: trời- đợi)
Trong khổ thơ thứ nhất, những hình ảnh nào là tín hiệu đặc trưng của mùa xuân?
Đọc kĩ khổ thơ thứ nhất, xác định các hình ảnh gợi đặc trưng của mùa xuân.
Những hình ảnh là tín hiệu đặc trưng của mùa xuân: “cành non”, “hoa đào”
Ghi lại những từ láy miêu tả cảnh vật thiên nhiên mùa xuân trong hai khổ thơ đầu. Qua những từ ngữ đó, hình ảnh mùa xuân hiện lên như thế nào trong cái nhìn của nhân vật trữ tình?
Tìm các từ láy trong hai khổ thơ đầu, sau đó phân tích giá trị gợi hình, gợi cảm của chúng để làm rõ vẻ đẹp của bức tranh mùa xuân.
- Những từ láy trong hai khổ thơ đầu miêu tả cảnh vật thiên nhiên mùa xuân:
+ khẽ khàng
+ biêng biếc
+ rì rào
- Qua những từ láy đó, hình ảnh mùa xuân hiện lên với vẻ đẹp êm dịu/ nhẹ nhàng/thơ mộng/ trong trẻo và đầy sức sống/ sống động/ giàu sự sống...
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ trong đoạn thơ:
Đã nghe biêng biếc màu mây
Đã nghe rì rào cỏ hát
Đã nghe dịu dàng nốt nhạc
Bầy chim di trú trở về.
Xác định từ ngữ được lặp lại, nêu tên biện pháp tu từ điệp ngữ và phân tích tác dụng trong việc nhấn mạnh nội dung, cảm xúc của nhân vật trữ tình.
- Biện pháp tu từ điệp ngữ: “đã nghe”.
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu tha thiết/ giúp câu thơ giàu nhạc điệu, liên kết các câu thơ, giúp diễn đạt sinh động, hấp dẫn.
+ Nhấn mạnh cảm xúc háo hức, say mê của nhân vật trữ tình khi đón nhận mùa xuân. Nhờ cách lặp ấy, các tín hiệu của mùa xuân hiện lên dồn dập, rõ ràng, như thể mùa xuân đã thực sự đến và lan tỏa khắp không gian, mùa xuân không chỉ được cảm nhận bằng thị giác mà còn bằng thính giác và bằng cả tâm hồn.
+ Thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm, tình yêu thiên nhiên của tác giả khi cảm nhận vẻ đẹp tràn đầy sức sống của thiên nhiên mùa xuân.
Bài thơ “Màu hoa mặt trời” đã gửi đến em những thông điệp gì?
Khái quát nội dung bài thơ, từ đó rút ra thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm về thiên nhiên, cuộc sống và con người.
Thông điệp:
- Hãy biết mở lòng cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên
- Hãy trân trọng những điều nhỏ bé, trong trẻo của cuộc sống
- Hãy tin yêu vào sự sống và những khởi đầu mới
- Hãy sống hài hoà với thiên nhiên, với làng quê yên bình.
...
Phần II. Viết
Viết đoạn văn khoảng 8 đến 10 câu (có đánh số thứ tự câu văn) trình bày cảm nhận của em về khổ thơ sau:
Sáng mai cành non dậy sớm
Vươn vai đón ánh mặt trời
Hoa đào ngậm sương chờ đợi
Cơn gió khẽ khàng hôn cây.
(Trích “Màu hoa mặt trời”- Bình Nguyên Trang)
Đọc kĩ khổ thơ; xác định nội dung, hình ảnh và biện pháp nghệ thuật tiêu biểu; trình bày cảm nhận thành đoạn văn đúng số câu, có đánh số thứ tự.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, cảm nghĩ khái quát về đoạn thơ
- Cảm nghĩ về chủ đề của đoạn thơ:
Khổ thơ mở ra bức tranh buổi sớm mùa xuân dịu dàng, tinh khôi và tràn đầy sức sống.
+ Hình ảnh “cành non dậy sớm / vươn vai đón ánh mặt trời” sử dụng biện pháp nhân hoá, khiến cành cây như một con người nhỏ bé đang thức dậy, vươn mình đón nắng. Qua đó, thiên nhiên hiện lên không tĩnh lặng mà sống động, đầy sinh khí, như đang hòa nhịp với nhịp sống con người.
+ Câu thơ “Hoa đào ngậm sương chờ đợi” gợi vẻ đẹp mong manh, tinh khiết của mùa xuân. Từ “ngậm” và “chờ đợi” khiến bông hoa như có cảm xúc, biết đợi chờ ánh nắng, đợi một ngày mới ấm áp hơn. Hoa đào – biểu tượng của mùa xuân – góp phần làm nổi bật sắc xuân rực rỡ, tươi tắn.
+ Câu thơ cuối “Cơn gió khẽ khàng hôn cây” tiếp tục sử dụng nhân hoá đầy tinh tế. Gió không chỉ thổi mà còn “hôn”, một hành động nhẹ nhàng, âu yếm, gợi cảm giác yêu thương, nâng niu. Không gian vì thế trở nên êm đềm, thanh bình, mang vẻ đẹp rất đỗi dịu dàng.
- Cảm nghĩ về nghệ thuật của bài thơ: Với thể thơ 6 chữ, gieo vần chân, ngắt nhịp 2/4 ngôn ngữ trong sáng, hình ảnh giàu chất gợi và biện pháp nhân hoá tinh tế khổ thơ thứ nhất đã khắc họa thành công khoảnh khắc thiên nhiên thức giấc trong buổi sớm mùa xuân qua đó tác giả thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết và cảm hứng ngợi ca sự sống tươi mới, trong trẻo của cuộc đời.
- Khẳng định lại ấn tượng chung về đoạn thơ, nêu cảm xúc, suy nghĩ hoặc nêu thông điệp từ đoạn thơ.
Em hãy viết bài văn nghị luận xã hội bàn về một hiện tượng (thói quen) xấu trong học tập của học sinh hiện nay.
Xác định rõ thói quen xấu cần bàn luận; giải thích, phân tích biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả; nêu ý kiến phản biện (nếu có), đề xuất giải pháp và rút ra bài học nhận thức, hành động.
I. Mở bài:
Dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận: Một hiện tượng (thói quen) xấu trong học tập của học sinh ngày nay.
II. Thân bài:
1. Giải thích hiện tượng (thói quen) xấu được bàn luận.
2. Thực trạng của vấn đề: Nêu các biểu hiện cụ thể của hiện tượng (thói quen) xấu được bàn luận.
3. Nguyên nhân hiện tượng (thói quen) xấu:
Phân tích những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn tới hiện tượng (thói quen) xấu, nêu lí lẽ và bằng chứng để làm rõ những nguyên nhân đó.
4. Hậu quả của hiện tượng (thói quen) xấu:
Làm rõ các hậu quả của hiện tượng (thói quen) xấu đang bàn, nêu lí lẽ và bằng chứng để làm rõ những hậu quả đó.
5. Đề xuất giải pháp để hạn chế, khắc phục hiện tượng (thói quen) xấu. (Với học sinh; Với gia đình, nhà trường, Xã hội)
6. Liên hệ bản thân, rút ra bài học
c. Kết bài:
- Kết luận vấn đề
- Đưa ra lời khuyên nhủ hoặc tỏ ý hành động.





