Đề thi thử giữa học kì 1 Văn 6 - Đề số 1
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau:
SỰ TÍCH HẠT THÓC GIỐNG
Thuở xưa có một ông vua cao tuổi mà không có con cái nên muốn tìm người nối ngôi. Vua ra lệnh phát cho mỗi người dân một thúng thóc về gieo và giao hẹn: Ai thu được nhiều thóc nhất sẽ được truyền ngôi và ai không có thóc sẽ bị trừng phạt.
Ở làng nọ có chú bé tên là Chôm mồ côi cha mẹ. Cậu cũng đi nhận thóc về và cố chăm sóc mà không một hạt thóc nào nảy mầm. Đến vụ thu hoạch, mọi người chở thóc về kinh đô thu nộp cho nhà vua. Chôm lo lắng, đến trước vua quỳ tâu:
- Tâu bệ hạ! Con không làm sao cho thóc của người nảy mầm được.
Mọi người sững sờ trước lời thú tội của Chôm, phen này sẽ bị phạt nặng nhưng nhà vua đã đỡ chú bé dậy, ôn tồn nói:
- Trước khi phát thóc giống, ta đã cho luộc kĩ rồi. Lẽ nào chúng còn nảy mầm được sao? Những xe thóc đầy ắp kia đâu phải thu được từ thóc giống của ta.
Rồi nhà vua dõng dạc tuyên bố:
- Trung thực là đức tính quý nhất của con người. Ta sẽ truyền ngôi cho chú bé trung thực và dũng cảm này.
Trong câu chuyện, tất cả những người dân trong đất nước đều thua cậu bé, bởi họ không dám công bố sự thật, họ sợ vua sẽ trừng phạt nên quên rằng sự thật mới là điều cần được tôn trọng hàng đầu.
Qua câu chuyện trên đã khuyên chúng ta trung thực là đức tính quý giá nhất của con người, chúng ta phải trung thực mọi lúc mọi nơi rồi sẽ nhận được những phần thưởng xứng đáng như cậu bé trong câu chuyện trên.
(Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 4, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975)
Truyện Sự tích hạt thóc giống được kể theo ngôi thứ mấy?
Dựa vào cách người kể chuyện xưng hô và vị trí của người kể để xác định ngôi kể.
Truyện được kể theo ngôi thứ ba.
Nhân vật chính của câu chuyện trên là ai?
Xác định nhân vật xuất hiện xuyên suốt câu chuyện và giữ vai trò trung tâm trong các sự việc.
Nhân vật chính là cậu bé Chôm.
Tìm từ láy trong câu văn sau:
“Mọi người sững sờ trước lời thú tội của Chôm, phen này sẽ bị phạt nặng...”
Dựa vào đặc điểm cấu tạo của từ láy, tìm từ có sự lặp lại về âm hoặc vần trong câu.
Từ láy là “sững sờ”.
Nhà vua phát cho mỗi người một thúng thóc giống đã luộc kĩ nhằm mục đích gì?
Dựa vào lời nói và hành động của nhà vua để xác định mục đích của việc phát thóc giống đã được luộc kĩ.
Nhà vua phát thóc giống đã luộc kĩ nhằm thử lòng trung thực của người dân, tìm ra người không gian dối và xứng đáng được truyền ngôi.
Vì sao chỉ có cậu bé Chôm không có thóc nảy mầm?
Dựa vào chi tiết nhà vua đã luộc kĩ thóc giống và đối chiếu với việc làm của Chôm để lí giải.
Chôm không có thóc nảy mầm vì hạt thóc giống nhà vua phát đã được luộc kĩ nên không thể nảy mầm. Chôm đã chăm sóc thóc cẩn thận nhưng không thể làm trái với sự thật.
Vì sao Chôm lại được vua truyền ngôi?
Dựa vào lời tuyên bố của nhà vua và những phẩm chất Chôm thể hiện trong câu chuyện.
Chôm được vua truyền ngôi vì cậu trung thực và dũng cảm, dám nói ra sự thật dù biết có thể bị trừng phạt.
Qua câu chuyện Sự tích hạt thóc giống, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 3–5 dòng) nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của đức tính trung thực trong cuộc sống.
Xác định ý nghĩa của đức tính trung thực từ câu chuyện, sau đó trình bày suy nghĩ bằng đoạn văn ngắn, có lí lẽ và liên hệ bản thân.
Trung thực là một đức tính vô cùng quý giá trong cuộc sống. Người trung thực luôn tôn trọng sự thật, không gian dối và dám chịu trách nhiệm về việc mình làm. Nhờ trung thực, con người tạo được niềm tin và sự tôn trọng từ những người xung quanh. Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện tính trung thực trong học tập cũng như trong cuộc sống hằng ngày.
Phần II. Viết
Viết một bài văn kể lại một truyện cổ tích hoặc một truyện truyền thuyết (ngoài sách giáo khoa), bằng lời văn của em.
Xác định truyện cổ tích hoặc truyền thuyết muốn kể, nắm được các sự việc chính, sau đó kể lại bằng lời văn của mình theo trình tự hợp lí; chú ý sử dụng các chi tiết tiêu biểu, lời kể và cảm xúc phù hợp.
Vào thời giặc Minh xâm lược nước ta, chúng coi nhân dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược. Bấy giờ ở vùng núi Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần thất bại. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần để giết giặc.
Hồi ấy, ở Thanh Hóa, có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Đến khi kéo lưới lên thấy nằng nặng, nghĩ rằng sẽ kéo được mẻ cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá thì chỉ thấy một thanh sắt. Chàng vứt xuống sông, rồi lại thả lưới ở chỗ khác. Kì lạ thay, liên tiếp ba lần đều vớt được thanh sắt nọ. Thận liền đưa thanh sắt lại mồi lửa thì phát hiện ra đó là một thanh gươm.
Về sau, Thận gia nhập vào nghĩa quân Lam Sơn. Một lần nọ, chủ tướng Lê Lợi cùng tùy tùng đến thăm nhà Thận. Bỗng nhiên thấy phía góc nhà lóe sáng, Lê Lợi tiến đến gần xem là cầm lên xem là vật thì gì thì thấy hai chữ “Thuận Thiên”. Song lại không ai nghĩ đó là lưỡi gươm thần.
Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng rút mỗi người một ngả. Lúc đi ngang qua một khu rừng, Lê Lợi thấy có ánh sáng trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc quý giá. Bỗng nhớ đến lưỡi gươm nhà Lê Thận, ông mang chuôi về tra vào lưỡi gươm thì vừa như in.
Một năm trôi qua, nhờ có gươm thần giúp sức, nghĩa quân của Lê Lợi đánh đến đâu thắng đến đó. Thanh thế ngày một vang xa. Quân Minh được dẹp tan. Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ. Vua cho cưỡi thuyền trên hồ Tả Vọng thì thấy Rùa Vàng nổi lên đòi lại thanh gươm thần:
- Việc lớn đã thành. Xin bệ hạ trả lại gươm báu cho đức Long Quân.
Sau khi nghe Rùa Vàng nói, Lê Lợi bèn đem gươm báu trả lại rồi nói:
- Xin cảm tạ ngài cùng đức Long Quân đã cho mượn gươm báu để đánh tan quân giặc, bảo vệ nước nhà.
Nghe xong, Rùa Vàng gật đầu rồi lặn xuống hồ. Từ đó, người dân đổi tên hồ Tả Vọng thành hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm.





