Đề thi giữa kì 1 môn Ngữ Văn 8 THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm năm 2024-2025 (Đề chẵn)
Phần I. Đọc hiểu
Em hãy đọc kĩ đoạn trích dưới đây rồi trả lời các câu hỏi bên dưới:
(1)” Không thể phủ nhận trong xã hội hiện nay vẫn tồn tại kiểu người vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, sống thiếu trách nhiệm với cộng đồng, chỉ quan tâm đến những cảm giác và cảm xúc của cá nhân… Tuy nhiên, những điều chưa tốt đó đã bị khai thác quá nhiều, khoét quá sâu nên nhiều người dễ nghĩ đó là sự phổ quát. Hơn nữa, người ta thường có xu hướng nhìn thấy những cái xấu nhiều hơn cái tốt, vì thế mọi sự liên quan đến hành vi xấu dễ bị đánh giá chủ quan.
(2) Trong khi đó, những điều giản đơn như gặp người lớn phải chào thưa, gặp người thân lễ phép, gặp người ơn phải trân quý, kính trọng… được cụ thể hóa thành những điều bình dị rất đời thường, ngay trong chính mỗi gia đình. Lớn lên trong lời ru của mẹ, trưởng thành từ chiếc nôi gia đình với những câu ca dao, tục ngữ; những bài học làm người khó quên… Tất cả là hành trang quan trọng để người ta làm người tử tế. […]
(3) Tuy nhiên, sự tử tế không phải là tài sản quý theo kiểu của để dành cũng không phải là món quà tự nhiên được ban tặng mà đó là hành trình làm người, hoàn thiện bản thân. Sự tử tế có được nhờ nguyên tắc của việc làm theo cái đúng dẫu là bắt chước; dựa trên quá trình rèn giũa, điều chỉnh và hoàn thiện để có những suy nghĩ, bày tỏ cảm xúc và hành vi tốt – ngay cả với nút like hay những dòng bình luận trên mạng xã hội.”
(Trích: Sự tử tế không phải là món quà, PGS. TS Huỳnh Văn Sơn)
Văn bản trên đề cập đến vấn đề gì?
Đọc văn bản, xác định nội dung chính hoặc vấn đề được tác giả bàn luận.
Vấn đề: Tình yêu thương
Theo tác giả, hiện nay người ta thường có xu hướng đánh giá hành vi như thế nào?
Đọc kĩ đoạn (1), tìm thông tin được nêu trực tiếp trong văn bản.
Tình thương yêu có sức mạnh rất lớn, nó giúp người khác vững tin hơn trong cuộc sống, giúp người khác vượt qua gian khổ, nó cảm hóa và làm thay đổi những người sống chưa tốt…
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê có trong đoạn văn (2).
Xác định biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn và nêu tác dụng của biện pháp đó đối với nội dung, ý nghĩa của đoạn.
- Biện pháp tu từ điệp ngữ: lời yêu thương, tình yêu thương
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, tạo sự liên kết chặt chẽ, nhịp điệu nhấn mạnh cho câu văn.
+ Nhằm nhấn mạnh, làm nổi bật chủ đề của đoạn văn là ca ngợi sức mạnh và sự quý giá của tình yêu thương, trân trân trọng ý nghĩa thiêng liêng của việc nói lời yêu thương.
Em hiểu như thế nào về câu văn: “Tuy nhiên, sự tử tế không phải là tài sản quý theo kiểu của để dành cũng không phải là món quà tự nhiên được ban tặng mà đó là hành trình làm người, hoàn thiện bản thân.”
Đọc kĩ câu văn, giải thích nghĩa của hình ảnh, từ ngữ và rút ra thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm.
Có nghĩa là tình yêu thương có thể nâng chúng ta lên trên những khía cạnh và trạng thái bình thường trong cuộc sống. Nó giúp chúng ta vượt qua sự tầm thường, con người sẽ không ích kỷ, đố kị, tranh giành, giẫm đạp lên nhau để sống, con người sẽ sống bao dung, vị tha hơn, nhân ái hơn.
Em có đồng tình với ý kiến: “Sự tử tế có được nhờ nguyên tắc của việc làm theo cái đúng dẫu là bắt chước”? Vì sao?
Nêu rõ quan điểm (đồng tình hoặc không đồng tình), lí giải bằng những lập luận và dẫn chứng phù hợp.
Em đồng ý với ý kiến vì: Tình yêu thương là nguồn năng lượng tinh thần và trái tim, nó có thể làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa và hạnh phúc. Tình yêu thương không chỉ tạo ra sự kết nối và sự quan tâm giữa con người mà còn giúp chúng ta vượt qua khó khăn, xua tan cô đơn và mang lại sự an ủi và sự cảm thông. Tình yêu thương là một món quà vô giá mà ta có thể cho nhau, và nó có thể thay đổi cuộc sống của mọi người.
Từ nội dung văn bản phần đọc – hiểu, hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) để trả lời câu hỏi: Tại sao cuộc sống của chúng ta cần có sự tử tế?
Viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ; nêu rõ vấn đề, giải thích, phân tích vai trò, ý nghĩa của sự tử tế, có thể đưa dẫn chứng và rút ra bài học nhận thức, hành động.
* Mở đoạn: Nơi lạnh lẽo nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình yêu thương.
* Thân đoạn:
- Giải thích: tình yêu thương là một phẩm chất tốt đẹp, là khả năng thấu hiểu, chăm sóc, và quan tâm đến người khác. Đó là trái tim mở rộng để yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh.
- Biểu hiện: Yêu thương con người thể hiện qua việc chia sẻ, giúp đỡ, và đặc biệt là sẵn sàng hy sinh cho người khác.
- Cuộc sống rất cần tình yêu thương vì:
+ Tình yêu thương là nguồn cảm hứng, niềm vui, và hạnh phúc trong cuộc sống.
+ Khi chúng ta yêu thương và được yêu thương, cuộc sống trở nên đáng sống hơn, tâm hồn trở nên bình an.
+ Tình yêu thương giúp kết nối con người, tạo ra mối quan hệ gắn kết, và xây dựng một xã hội hòa bình và tôn trọng.
+ Nó cũng là động lực giúp chúng ta vượt qua khó khăn, khắc phục thách thức, và tạo nên một xã hội văn minh.
- (HS tự lấy dẫn chứng)
- Mở rộng: Phê phán những người sống vô tâm, ích kỷ, chỉ quan tâm đến bản thân mình mà không để ý đến người khác.
- Bài học: Hãy lan tỏa tình yêu thương bằng việc tham gia vào hoạt động thiện nguyện và ủng hộ những người khó khăn.
* Kết đoạn: "Con người sống không có tình yêu thương cũng giống như vườn hoa không có ánh nắng mặt trời. Không có gì đẹp đẽ và hữu ích có thể nảy nở trong đó được." - Vích-to Huy-go.
Phần II. Viết
Phân tích đoạn trích sau:
“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.”
( Trích: Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Vận dụng kĩ năng phân tích thơ: giới thiệu đoạn trích; phân tích vẻ đẹp, tài năng của Thúy Vân và Thúy Kiều kết hợp làm rõ các biện pháp nghệ thuật tiêu biểu; nhận xét giá trị nội dung, nghệ thuật và khái quát ý nghĩa của đoạn trích.
1. Mở bài
- Giới thiệu ngắn gọn tác giả Nguyễn Du.
- Truyện Kiều hay bởi tài năng nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du thể hiện qua từng vần thơ, nét chữ. Một trong những giá trị nghệ thuật tiêu biểu là bút pháp tả người vô cùng điêu luyện, tài hoa. Hình ảnh hai chị em Thúy Kiều trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” là bức tranh con người được vẽ bằng ngôn ngữ Tiếng Việt đạt đến mức hoàn chỉnh. Trong đó, mười sáu câu thơ lục bát đã khắc họa chân dung tài, sắc, đức hạnh của hai tuyệt thế giai nhân bằng tất cả tấm lòng và sự trân trọng, nâng niu.
2. Thân bài
a. Vị trí đoạn trích: – Đoạn trích Chị em Thuý Kiều nằm trong phần đầu của Truyện Kiều – “Gặp gỡ và đính ước”, sau phần giới thiệu gia cảnh gia đình Thuý Kiều.
b. Khái quát nội dung bốn câu đầu đoạn trích: Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật ước lệ, cổ điển và trang trọng để giới thiệu về lai lịch, vị trí trong gia đình cũng như vẻ đẹp “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” của hai chị em. Bốn câu thơ đầu là bức tranh nền để từ đó tác giả dẫn người đọc lần lượt chiêm ngưỡng sắc đẹp của từng tuyệt sắc giai nhân.
c. Vẻ đẹp của Thúy Vân (bốn câu thơ đầu) : Chỉ qua bốn câu thơ, Nguyễn Du đã tả được một cách đầy đủ, trọn vẹn những đặc điểm của nhân vật Thuý Vân.
- Câu thơ mở đầu: “Vân xem trang trọng khác vời” đã giới thiệu khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân: một vẻ đẹp cao sang. quí phái
Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ân dụ, nhân hoá: “khuôn trăng”, “nét ngài ”, “hoa cười ngọc thốt, “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da ”
=> Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu; tính cách thì đoan trang, thùy mị: khuôn mặt đây đặn, tươi sáng như trăng đêm rằm; lông mày sắc nét như mày ngài; miệng cười tươi thăm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngọc ngà là những lời đoan trang, thùy mị. Mái tóc của nàng đen mượt hơn mây, da trắng mịn màng hơn tuyết.
=> Vân đẹp hơn những gì mỹ lệ của thiên nhiên - một vẻ đẹp tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh, cùng là hương sắc của tạo hóa, báu vật của nhân gian. -> Dự báo vê một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ.
d. Vẻ đẹp của Thúy Kiều (mười hai câu thơ sau): Nếu như miêu tả bức chân dung của Thuý Vân, Nguyễn Du chỉ dùng bốn câu thì đến với Thuý Kiều, Nguyễn Du rất ưu ái, dùng nhiều bút lực và sự yêu mến đặc biệt dành cho nàngvới mười hai câu thơ.
* Vẻ đẹp nhan sắc:
- Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân trước để làm nổi bật vẻ đẹp của Thuý Kiều theo thủ pháp nghệ thuật đòn bẩy.
- Từ chỉ mức độ “càng” đứng trước hai từ láy liên tiếp: “sắc sảo”, “mặn mà” như càng tô đậm vẻ đẹp “sắc sảo” về trí tuệ và vẻ “mặn mà” về tâm hồn của Thuý Kiều.
– Khác với Thuý Vân, Nguyễn Du không miêu tả cụ thể, chi tiết mà chỉ đặc tả đôi mắt theo lối “điểm nhãn”, tức là vẽ hồn chân dung bằng những hình ảnh mang tính ước lệ:
(Trích bốn câu thơ)
+ Hình ảnh ẩn dụ: “làn thu thuỷ” đó là đôi mắt trong sáng, long lanh, sâu thẳm, huyền ảo như làn nước mùa thu.
+ Hình ảnh so sánh: “nét xuân sơn” đó là đôi lông mày thanh tú tràn đầy sức sống trên khuôn mặt như núi mùa xuân.
=> Đôi mắt, nó không chỉ mang vẻ đẹp bên ngoài mà đó còn là cửa sổ thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. Đây cũng chính là cách tả truyền thống của văn học trung đại: nét đậm đan xen với nét nhạt, chỗ tỉ mỉ, chỗ chấm phá.
– Cặp hình ảnh nhân hoá: “hoa ghen”, “liễu hờn” thể hiện thái độ của thiên nhiên trước vẻ đẹp của Thuý Kiều.
– “Nghiêng nước nghiêng thành” là cách nói sáng tạo từ điển cố: “Nhất cố khuynh nhân thành, Tái cố khuynh nhân quốc” (Ngoảnh lại nhìn một lần thì làm nghiêng thành người, Ngoảnh lại nhìn lần nữa thì làm nghiêng nước người) để cực tả vẻ đẹp của bậc tuyệt sắc giai nhân.
– Cũng giống như vẻ đẹp của Vân, vẻ đẹp chân dung của Kiều cũng dự báo về tính cách và số phận của nàng. Vẻ đẹp của Thuý Kiều không hài hoà với vẻ đẹp của thiên nhiên mà vượt qua mọi khuôn khổ, chuẩn mực cái đẹp của thiên nhiên. Vì vậy khiến cho vẻ đẹp của các thứ khác phải “ghen”, “hờn”, đố kị. Nó dự báo số phận đầy tai ương, sóng gió của nàng.
* Vẻ đẹp tài năng và tâm hồn:
– Không chỉ miêu tả Thuý Kiều là một tuyệt sắc giai nhân, Nguyễn Du còn cho người đọc thấy nàng là người phụ nữ thông minh, có trí tuệ thiên bẩm và rất đa tài: “Thông minh vốn sẵn tính trời”.
- Kiều là người con gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng: đủ cả cầm, kì, thi, họa.
- Đặc biệt, tài đàn của nàng vượt trội hơn cả. Nàng đã soạn riêng một khúc bạc mệnh mà ai nghe cũng não lòng. Khúc nhạc thể hiện tâm hồn, tài năng, trái tim đa sầu đa cảm của nàng.
e. Đánh giá đoạn trích:
Đoạn trích Chị em Thuý Kiều là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất trong Truyện Kiều được nhiều người yêu thích và thuộc lòng. Ngôn ngữ thơ điêu luyện, giàu cảm xúc. Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hoá được đại thi hào Nguyễn Du vận dụng một cách tài tình, sáng tạo những vần thơ ước lệ mà trữ tình, thấm đẫm chất thơ. Hàm ẩn sau bức chân dung mĩ nhân là tấm lòng quý mến, trân trọng bậc tài sắc của tác giả.
3. Kết bài
Bằng một thế giới ngôn ngữ phong phú, tinh tế, kì diệu; một bút pháp điêu luyện, một tài năng khám phá tuyệt vời kết hợp với lòng thương yêu con người, nhất là đối với người phụ nữ, Nguyễn Du vẽ lên bức chân dung vừa điển nhã, vừa có sức gợi cảm mãnh liệt của Thuý Vân và Thuý Kiều trong trích đoạn Chị em Thuý Kiều. Sự ngưỡng mộ, ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội trọng nam khinh nữ chính là biểu hiện sâu sắc của cảm hứng nhân văn trong ngòi bút của đại thi hòa Nguyễn Du.





