Đề tham khảo cuối HK2 Văn 6 - Đề số 4
FlashcardsHọc Flashcards
Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Tốc độĐấu trường tốc độ
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Phần I. Đọc hiểu
Đọc đoạn trích và thực hiện yêu cầu.
“NHẬN” VÀ “CHO” TRONG HỘI NHẬP VĂN HÓA
Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, Ủy ban văn hóa, giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã khuyến cáo: Bước sang thế kỷ 21, nền khoa học của nhân loại có những bước tiến như vũ bão, làm đảo lộn nhiều giá trị tưởng như đã ổn định. Những thành tựu kì diệu của khoa học, công nghệ,... sẽ kéo theo những thay đổi về văn hóa, tác động sâu sắc đến các giá trị văn hóa truyền thống theo hướng tích cực hoặc tiêu cực.
Vì vậy, các dân tộc cần chuẩn bị cho quá trình hội nhập một cách thông minh, trên cơ sở bảo tồn vững chắc những tinh hoa truyền thống của nền văn hóa dân tộc mình, góp phần làm phong phú nền văn hóa chung của nhân loại.
Từ trước tới nay, Đảng ta luôn luôn đề cao vai trò của văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng xác định văn hóa là động lực và nền tảng của phát triển bền vững, “Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế” là cốt lõi của “Văn hóa hội nhập” Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa, vì văn hóa không đứng ngoài chính trị và kinh tế. Hội nhập văn hóa đồng thời diễn ra trong quá trình hội nhập kinh tế.
Nếu hội nhập kinh tế diễn ra theo xu hướng hòa đồng các giá trị thì hội nhập văn hóa - vấn đề cốt tử là phải bảo tồn cho được các giá trị riêng biệt, đó chính là bản sắc văn hóa của dân tộc. Hội nhập văn hóa là sự thống nhất giữa “nhận” và “cho”. “Nhận” cái mới của nước ngoài và “cho” thế giới, đóng góp cho thế giới những điều đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Tức là, quá trình hội nhập, chúng ta không chỉ tiếp biến văn hóa nhân loại để làm giàu có thêm kho tàng văn hóa Việt Nam, mà văn hóa Việt Nam có thể đóng góp những giá trị đặc sắc của mình vào văn hóa chung của nhân loại. Văn hóa Việt Nam có đủ tầm vóc, bản lĩnh, tự tin để tham gia định hình những giá trị chung trong văn hóa của nhân loại. Đó là một nội dung quan trọng của tiến trình hội nhập văn hóa.
Giao lưu và hội nhập văn hóa có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển nền văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhưng hội nhập bao giờ cũng có hai mặt. Mặt tích cực là giao lưu và hội nhập sẽ giúp cho văn hóa mỗi dân tộc luôn phát triển, tiếp nhận được những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác để bồi đắp thêm cho văn hóa của dân tộc mình, đồng thời, quảng bá được những giá trị văn hóa của dân tộc mình cho các dân tộc khác. Tuy nhiên, cùng với đó là nguy cơ “đồng hóa” các hệ giá trị, các chuẩn mực văn hóa dân tộc, đe dọa tính sáng tạo của các nền văn hóa dân tộc, dẫn đến tình trạng “vong bản”, thậm chí thủ tiêu các giá trị văn hóa dân tộc.
Bản sắc văn hóa của một dân tộc chính là cốt cách của dân tộc ấy. Cốt cách dân tộc là những phẩm chất tương đối ổn định và bền vững, bởi nó được hình thành và tồn tại trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc. Đồng thời, cốt cách dân tộc được thể hiện rất rõ ở lĩnh vực văn hóa, làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc. Vì vậy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cũng chính là giữ gìn cốt cách của dân tộc. Một nền văn hóa giữ được cốt cách dân tộc sẽ là một nền văn hóa có đủ nội lực đề kháng, chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” từ bên ngoài. Một nền văn hóa như vậy mới đủ tự tin và bản lĩnh để tiếp nhận chọn lọc những giá trị văn hóa của các dân tộc khác, “dân tộc hóa” những giá trị văn hóa nhân loại để đồng hành cùng nhân loại.
Trong quá trình giao lưu văn hóa hiện nay, sự xâm nhập, thẩm thấu các giá trị văn hóa ngoại lai vào nước ta diễn ra thông qua nhiều hình thức, con đường rất tinh vi, thông qua các loại hình nghệ thuật phức hợp. Chưa kể, đang có những âm mưu “xâm lăng” văn hóa, làm mờ nhòe ranh giới, làm “mù nhận thức” của người tiếp nhận. Nguy cơ ấy đòi hỏi dân tộc ta phải trang bị cho nền văn hóa truyền thống một sức đề kháng đủ mạnh, để cốt cách văn hóa Việt Nam thẩm thấu và di truyền vào con tim, khối óc, huyết quản,... của mỗi con dân nước Việt, để trong công cuộc hội nhập, văn hóa chỉ hòa nhập chứ không bị “hòa tan”.
(Theo Mai Nam Thắng, baotainguyenmoitruong.vn, ngày 02/3/2023)
Ngữ liệu trên thuộc kiểu văn bản nào?
Văn bản nghị luận.
Văn bản thông tin.
Văn bản văn học.
Văn bản hành chính.
Dựa vào đặc điểm của các kiểu văn bản để xác định kiểu văn bản của ngữ liệu.
Văn bản chủ yếu cung cấp, giới thiệu và giải thích thông tin về vấn đề được đề cập, không tập trung xây dựng cốt truyện hay bộc lộ cảm xúc.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì?
Tự sự.
Biểu cảm.
Thuyết minh.
Nghị luận.
Xác định mục đích chính của văn bản và cách tác giả triển khai nội dung.
Văn bản chủ yếu cung cấp, giới thiệu và giải thích thông tin về vấn đề được đề cập, không tập trung xây dựng cốt truyện hay bộc lộ cảm xúc. Vì vậy, đây là văn bản thông tin, phương thức biểu đạt chính là thuyết minh.
Đoạn in đậm trong văn bản đóng vai trò gì?
Sa pô.
Nhan đề.
Đề mục.
Lời đề tựa.
Dựa vào vị trí và chức năng của phần văn bản được in đậm.
Phần in đậm nằm ngay dưới nhan đề, có chức năng giới thiệu khái quát vấn đề được đề cập trong văn bản, định hướng nội dung cho người đọc => đó là sa pô.
Từ nào không phải từ mượn được sử dụng trong văn bản?
Cốt tử.
Bảo tồn.
Mờ nhòe.
Ngoại lai.
Dựa vào nguồn gốc của từ ngữ để phân biệt từ thuần Việt và từ mượn.
Các từ “cốt tử”, “bảo tồn”, “ngoại lai” đều là những từ có nguồn gốc Hán Việt. “Mờ nhòe” là từ thuần Việt.
Theo văn bản, cốt cách của một dân tộc được thể hiện qua yếu tố nào?
Bản sắc văn hóa.
Thành tựu khoa học, nghệ thuật.
Con người.
Lịch sử đấu tranh.
Tìm thông tin trực tiếp trong văn bản.
Văn bản khẳng định: “Bản sắc văn hóa của một dân tộc chính là cốt cách của dân tộc ấy.” Vì vậy, cốt cách của một dân tộc được thể hiện rất rõ ở bản sắc văn hóa.
Nội dung nào sau đây không có trong văn bản?
Đảng ta luôn đề cao quá trình hội nhập văn hóa.
Quá trình hội nhập văn hóa có sự thống nhất giữa “nhận” và “cho”.
Hội nhập văn hóa luôn có hai mặt là tích cực và tiêu cực.
Quá trình “hòa tan” văn hóa đang gây nhức nhối trong dư luận.
Đối chiếu từng phương án với những thông tin được trình bày trong văn bản.
Văn bản có đề cập:
- Vai trò của Đảng đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa.
- Hội nhập văn hóa là sự thống nhất giữa “nhận” và “cho”.
- Hội nhập văn hóa có cả mặt tích cực và tiêu cực.
Văn bản không đề cập đến việc quá trình “hòa tan” văn hóa đang gây nhức nhối trong dư luận.
Trạng ngữ trong câu: “Từ trước tới nay, Đảng ta luôn luôn đề cao vai trò của văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” có công dụng gì?
Chỉ nơi chốn.
Chỉ thời gian.
Chỉ phương tiện.
Chỉ nguyên nhân.
Dựa vào ý nghĩa của trạng ngữ và câu hỏi “khi nào?”, “ở đâu?”, “vì sao?”, “bằng gì?” để xác định loại trạng ngữ.
Cụm từ “Từ trước tới nay” trả lời cho câu hỏi “từ khi nào?”, xác định thời gian diễn ra hoạt động “đề cao vai trò của văn hóa”.
=> Đây là trạng ngữ chỉ thời gian.
Nguy cơ gì sẽ xảy đến trong quá trình hội nhập văn hóa?
“Đồng hóa” văn hóa.
Làm “mù nhận thức” con người.
“Xâm lăng” văn hóa.
Xóa sổ văn hóa.
Đọc kĩ đoạn văn nói về những mặt trái và nguy cơ của quá trình hội nhập văn hóa.
Văn bản cảnh báo nguy cơ “đồng hóa” các hệ giá trị, các chuẩn mực văn hóa dân tộc, đe dọa tính sáng tạo và có thể dẫn đến tình trạng “vong bản”.
Hãy tóm tắt nội dung của văn bản bằng một đoạn văn 5 - 7 dòng.
Xác định các luận điểm chính của văn bản, sau đó khái quát lại bằng lời văn ngắn gọn, không kể lại chi tiết.
- Chủ trương của Đảng trong việc gìn giữ văn hóa.
- Hội nhập văn hóa trong sự thống nhất giữa “cho” và “nhận”.
- Mặt tích cực, tiêu cực của hội nhập văn hóa.
- Khẳng định tầm quan trọng của việc gìn giữ bản sắc văn hóa.
- Nhắc nhở mỗi người trước nguy cơ “xâm lăng” văn hóa.
Viết đoạn văn 5 - 7 dòng trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa trong thời đại ngày nay.
Xác định vấn đề cần nghị luận, sau đó trình bày suy nghĩ bằng các lí lẽ và dẫn chứng phù hợp.
- Ý nghĩa của vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa trong thời đại ngày nay:
+ Giúp con người ý thức về cội nguồn và giá trị tinh thần cao quý của người Việt Nam.
+ Nhắc nhở thế hệ người Việt trẻ hiểu thêm về giá trị văn hóa dân tộc và ý thức gìn giữ giá trị văn hóa.
+ Nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc, góp phần hình thành lối sống, phẩm chất tốt đẹp.
…
Phần II. Viết
Viết bài văn trình bày suy nghĩ về vấn đề bắt nạt trong trường học hiện nay.
Mở bài: giới thiệu vấn đề cần bàn luận (vấn đề bắt nạt trong trường học hiện nay).
Thân bài: đưa ra ý kiến bàn luận, kết hợp lí lẽ, bằng chứng.
+ Gây tổn thương về thể chất.
+ Tạo nên những thương tổn tinh thần.
+ Gây ảnh hưởng tiêu cực tới bộ mặt ngành giáo dục và toàn xã hội.
Kết bài: khẳng định lại ý kiến của bản thân.
1. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: nạn bạo hành học đường.
2. Thân bài
a. Thực trạng
- Ở trong trường học, hiện tượng các em học sinh chửi bới, lặng mạ, sỉ nhục bạn bè hiện nay khá phổ biến.
- Bên cạnh việc lăng mạ, xúc phạm người khác thì hiện tượng đánh nhau giữa học sinh cũng không phải khó gặp, thậm chí có nhiều trường hợp công an phải vào cuộc.
- Tình trạng bạo lực học đường không chỉ xảy ra giữa các bạn nam mà hiện nay còn xảy ra ở các bạn nữ.
b. Nguyên nhân
- Chủ quan: do ý thức của các bạn học sinh còn kém, muốn thể hiện bản thân mình hơn người nên dùng bạo lực và ngôn ngữ không đứng đắn để chứng minh.
- Khách quan: do sự quản lí còn lỏng lẻo của gia đình và nhà trường, chưa định hướng cho các em tư duy đúng đắn dẫn đến những hành động lệch lạc.
c. Hậu quả
- Hình thành thói hung hăng, tính cách không tốt cho người thực hiện hành vi bạo lực; gây tổn hại, ảnh hưởng về sức khỏe, về tâm lí cho người bị hành hung.
- Gây ra những hình ảnh xấu cho học sinh, nhà trường và gia đình.
- Vấn đề bạo lực học đường sau này sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của các em học sinh, khiến cho các em dễ trở thành người xấu.
d. Giải pháp
- Mỗi học sinh cần có nhận thức đúng đắn, sống chan hòa với mọi người, hướng đến những điều tốt đẹp, không dùng bạo lực để giải quyết vấn đề.
- Gia đình cần quan tâm đến con em của mình nhiều hơn, giáo dục về ý thức, tư duy cho các em.
- Nhà trường cần có những biện pháp nghiêm khắc để xử lí những hành vi bạo lực học đường để răn đe và không cho các em tái phạm.
3. Kết bài
- Khái quát lại vấn đề cần nghị luận: nạn bạo hành học đường; đồng thời rút ra bài học, liên hệ bản thân.





