Đề thi học kì 1 Văn 6 - Đề số 4
FlashcardsHọc Flashcards
Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Tốc độĐấu trường tốc độ
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản dưới đây:
Thầy thuốc như mẹ hiền
Hải Thượng Lãn Ông là một thầy thuốc giàu lòng nhân ái, không màng danh lợi.
Có lần, một người thuyền chài có đứa con nhỏ bị bệnh đậu nặng, nhưng nhà nghèo, không có tiền chữa. Lãn Ông biết tin bèn đến thăm. Giữa mùa hè nóng nực, cháu bé nằm trong chiếc thuyền nhỏ hẹp, người đầy mụn mủ, mùi hôi tanh bốc lên nồng nặc. Nhưng Lãn Ông vẫn không ngại khổ. Ông ân cần chăm sóc đứa bé suốt một tháng trời và chữa khỏi bệnh cho nó. Khi từ giã nhà thuyền chài, ông chẳng những không lấy tiền mà còn cho thêm gạo, củi.
Một lần khác, có người phụ nữ được ông cho thuốc và giảm bệnh. Nhưng rồi bệnh tái phát, người chồng đến xin đơn thuốc mới. Lúc ấy trời đã khuya nên Lãn Ông hẹn đến khám kĩ mới cho thuốc. Hôm sau ông đến thì được tin người chồng đã lấy thuốc khác, nhưng không cứu được vợ. Lãn Ông rất hối hận. Ông ghi trong sổ thuốc của mình: “Xét về việc thì người bệnh chết do tay thầy thuốc khác, song về tình thì tôi như mắc phải bệnh giết người. Càng nghĩ càng hối hận”.
Là thầy thuốc nổi tiếng, Lãn Ông nhiều lần được vua chúa vời vào cung chữa bệnh và được tiến cử vào chức ngự y, song ông đã khéo chối từ.
Suốt đời, Lãn ông không vương vào vòng danh lợi. Ông có hai câu thơ tỏ chí của mình:
Công danh trước mắt trôi như nước,
Nhân nghĩa trong lòng chẳng đổi phương.
Theo TRẦN PHƯƠNG HẠNH
Thầy thuốc trong bài có tên là:
Đọc kĩ phần mở đầu văn bản, xác định chính xác tên của vị thầy thuốc được nhắc đến.
Thầy thuốc trong bài có tên là Hải Thượng Lãn Ông.
Tìm đại từ trong câu: “Xét về việc thì người bệnh chết do tay thầy thuốc khác, song về tình thì tôi như mắc phải bệnh giết người. Càng nghĩ càng hối hận.”
Xác định những từ dùng để xưng hô hoặc thay thế cho người, sự vật trong câu; chú ý từ “tôi” đang được dùng để xưng hô.
Trong câu trên có một đại từ là “tôi”
Từ trái nghĩa với “nhân ái” là:
Xác định nghĩa của từ “nhân ái” (yêu thương, quan tâm, giúp đỡ người khác), sau đó tìm từ có nghĩa đối lập với nó.
Từ trái nghĩa với từ “nhân ái” là ghét bỏ.
Từ “đến” trong câu “Lãn Ông biết tin bèn đến thăm.” Thuộc loại từ nào?
Xét nghĩa và chức năng của từ “đến” trong câu; nếu từ biểu thị hoạt động, hành động của chủ thể thì xác định là động từ.
Từ đến trong câu “Lãn Ông biết tin bèn đến thăm” là động từ.
Hải Thượng Lãn Ông được nhận định là người như thế nào?
Dựa vào lời giới thiệu trực tiếp ở đầu văn bản và các việc làm của Hải Thượng Lãn Ông để xác định nhận định phù hợp nhất.
Hải Thượng Lãn Ông được nhận định là một thầy thuốc giàu lòng nhân ái, không màng danh lợi.
“Lãn Ông rất hối hận” trong đó cụm “rất hối hận” là cụm:
Xác định từ trung tâm của cụm “rất hối hận”; nếu từ trung tâm là tính từ và có từ chỉ mức độ đi kèm thì đó là cụm tính từ.
“rất hối hận” là cụm tính từ.
“Ngự y” là:
Dựa vào ngữ cảnh “được vua chúa vời vào cung chữa bệnh” để xác định nghĩa của từ “ngự y”.
Ngự y là: Thầy thuốc của nhà vua.
Từ nào không cùng nghĩa với từ “từ giã”:
Xác định nghĩa của “từ giã” là rời đi, chia tay; đối chiếu với nghĩa của từng đáp án để tìm từ không đồng nghĩa.
Không cùng nghĩa với “từ giã” là từ: Hồi hương (quay trở về quê hương).
Nêu cách hiểu của em về 2 câu thơ cuối bài.
Giải thích ý nghĩa hình ảnh “công danh… như nước” và “nhân nghĩa trong lòng”, từ đó nêu phẩm chất, quan niệm sống của Hải Thượng Lãn Ông.
"Công danh trước mắt trôi như nước
Nhân nghĩa trong lòng chẳng đổi phương".
Nghĩa là: Công danh không phải là cái tồn tại mãi, nó cũng sẽ trôi đi như nước. Chỉ có nhân nghĩa là cái tồn tại mãi mãi, mới đáng trân trọng và đáng quý nhất ở đời.
Vì sao Hải Thượng Lãn Ông được coi là một bậc danh y của Việt Nam?
Dựa vào những việc làm, phẩm chất và tài năng được thể hiện trong văn bản để khái quát lí do Hải Thượng Lãn Ông được coi là bậc danh y.
Bên cạnh việc làm thuốc, chữa bệnh, Hải Thượng Lãn Ông còn nghiên cứu, viết nhiều sách có giá trị về y học, văn hoá và lịch sử nên ông được coi là một bậc danh y của Việt Nam.
Phần II. Viết
Viết bài văn ngắn nêu cảm xúc của em về bài ca dao sau:
Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ai vô xứ Huế thì vô.
Phân tích, áp dụng phương thức biểu đạt tự sự kết hợp linh hoạt các phương thức biểu đạt khác.…
Về kỹ năng, hình thức:
- Học sinh viết đúng kiểu bài cảm nhận về bài ca dao.
- Hành văn, diễn đạt trong sáng, kết cấu bài hoàn chỉnh, chặt chẽ. Không mắc lỗi thông thường về chính tả, ngữ pháp.
Về nội dung:
1. Mở bài:
Giới thiệu chung về bài ca dao và cảm xúc ban đầu về bài ca dao.
2. Thân bài:
- Khung cảnh thiên nhiên trên đường vô sứ Huế đẹp như tranh họa đồ bởi có núi, có sông ⇒làm đa dạng, phong phú và cuốn hút lòng người.
- Câu ca dao trên là lời nhắn nhủ, mời mọc du khách hãy đến thăm Huế xứ sở của thơ ca, nhạc họa, của tình người đằm thắm, ngọt ngào. Đây cũng là một cách thể hiện tình yêu và niềm tự hào về quê hương của người dân xứ Huế.
- Cảnh thiên nhiên non xanh, nước biếc trên đường vào Huế đẹp như một bức tranh sơn thủy hữu tình. - Các tính từ: quanh quanh, xanh, biếc,....và các so sánh thường thấy trong văn chương đã thể hiện lên vẻ đẹp tuyệt vời miền Trung đặc biệt là Huế.
-"Đường vô xứ Huế quanh quanh" như là lời nhắn nhủ, mời gọi. Đại từ phiếm chỉ "ai" thường có nhiều ý nghĩa. Nó thể hiện chỉ số ít hoặc nhiều, có thể chỉ 1 người hoặc có thể chỉ nhiều người. - Câu ca dao trên thể hiện tình yêu thiết tha và lòng tự hào về vẻ đẹp thơ mộng của đất cố đô. Đây cũng là cách giới thiệu thanh lịch, mang sắc thái tinh tế, thanh lịch của người dân Huế.
3. Kết bài:
- Đằng sau những bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ là tình yêu quê hương, đất nước của người dân Việt Nam.





