Đề thi tham khảo học kì 2 Văn 10 - Đề số 5
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Ngại ở nhân gian lưới trần,
Thì nằm thôn dã miễn yên thân.
Trúc mai chẳng phụ lòng quân tử,
Viên hạc(1) đà quen bạn dật dân.
Hái cúc ương lan hương bén áo(2),
Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn(3).
Đàn cầm suối trong tai dội(4),
Còn một non xanh là cố nhân.
(Thuật hứng 15, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976, tr. 415-416)
Chú thích:
(1) Viên hạc: con vượn và con hạc.
(2) Hương bén áo: Hương của cúc, lan như lưu trên áo
(3) Tuyết xâm khăn: Tuyết vương vít trên khăn
(4) Đàn cầm suối trong tai dội: Tiếng suối chảy như tiếng đàn dội bên tai;
Xác định thể thơ của văn bản.
Dựa vào số tiếng trong từng dòng thơ và cách tổ chức vần, nhịp để xác định thể thơ.
Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn
Nguyễn Trãi coi những đối tượng nào là bạn, là cố nhân?
- Đọc kĩ văn bản
- Chú ý những câu thơ trực tiếp xác định mối quan hệ giữa nhân vật trữ tình với thiên nhiên, từ đó tìm các đối tượng được xem như bạn bè, tri âm.
Những đối tượng Nguyễn Trãi coi là bạn, là cố nhân: Viên hạc, non xanh
+ “Viên hạc đà quen bạn dật dân”: vượn, hạc trở thành những người bạn thân quen của một con người sống ẩn dật.
+ “Còn một non xanh là cố nhân”: núi xanh được Nguyễn Trãi xem như một người bạn tri kỉ, gắn bó lâu dài với mình.
Nhận xét về cuộc sống của Nguyễn Trãi nơi thôn dã
- Từ các hình ảnh, hoạt động, không gian sống được miêu tả trong văn bản, khái quát đặc điểm cuộc sống của nhân vật trữ tình
- Chú ý những từ ngữ thể hiện thái độ, quan niệm sống.
- Cuộc sống của Nguyễn Trãi nơi thôn dã: Cuộc sống yên bình giản dị, thanh bạch, gần gũi, chan hòa với thiên nhiên
- Cuộc sống của Nguyễn Trãi nơi thôn dã hiện lên yên bình, giản dị, thanh bạch và hòa hợp với thiên nhiên. Ông rời xa “lưới trần”, tìm về chốn thôn dã để được sống cuộc đời tự do, an nhiên.
- Những thú vui của ông đều gắn với thiên nhiên như hái cúc, ương lan, tìm mai, thưởng nguyệt, ngắm tuyết, nghe tiếng suối. Thiên nhiên không chỉ là cảnh vật mà còn trở thành bạn bè, tri kỉ của nhà thơ.
Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ đối được sử dụng trong hai câu thơ sau.
Hái cúc ương lan hương bén áo,
Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn
- Vận dụng kiến thức về phép đối trong bài thơ Đường luật
- Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng
- Phép đối trong hai câu:
Hái cúc >< Tìm mai; ương lan >< đạp nguyệt; hương bén áo >< tuyết xâm khăn.
- Tác dụng:
+ Tô đậm vẻ đẹp của thiên nhiên; nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi: Yêu thiên nhiên, gắn bó với cảnh sắc quê nhà.
+ Tạo sự cân xứng, hài hòa cho lời thơ.
Cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi được thể hiện qua văn bản.
Dựa vào hình ảnh, hoạt động, cách ứng xử của nhân vật trữ tình với thiên nhiên và quan niệm sống để khái quát vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi.
Gợi ý:
- Tâm hồn yêu thiên nhiên, gắn bó và giao hòa với thiên nhiên:
+ Tìm đến thôn dã, hòa mình vào cảnh sắc tự nhiên.
+ Gắn bó với “trúc mai”, “viên hạc”, “cúc”, “lan”, “mai”, “suối”, “non xanh”.
+ Cảm nhận tinh tế vẻ đẹp, hương sắc, âm thanh của thiên nhiên.
- Tâm hồn thanh cao, giản dị, thanh bạch:
+ “Ngại ở nhân gian lưới trần” → không muốn vướng vào vòng danh lợi, bụi trần.
+ Chọn cuộc sống nơi thôn dã, tìm sự bình yên, tự tại.
- Đời sống tinh thần phong phú, giàu chất nghệ sĩ:
+ Có những thú vui tao nhã: hái cúc, ương lan, tìm mai, thưởng nguyệt, nghe tiếng suối.
+ Biết tìm thấy niềm vui, sự thanh thản từ những điều bình dị của cuộc sống.
- Tâm hồn giàu tình tri kỉ, coi trọng sự gắn bó: Xem “viên hạc” là bạn, “non xanh” là cố nhân. → Thiên nhiên không chỉ là cảnh vật mà đã trở thành người bạn tri âm, tri kỉ.
=> Nguyễn Trãi hiện lên với tâm hồn thanh cao, yêu thiên nhiên, sống giản dị, thanh bạch, giàu chất nghệ sĩ và luôn hướng tới sự tự do, bình yên trong đời sống tinh thần.
II. VIẾT
Đọc văn bản sau:
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
(Trích Thu vịnh- Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, Hà Nội, 1971)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) nêu cảm nhận của anh, chị về vẻ đẹp bức tranh mùa thu trong bốn câu thơ trên.
- Xác định các hình ảnh, màu sắc, đường nét, không gian tiêu biểu làm nên bức tranh mùa thu.
- Phân tích từ ngữ, biện pháp nghệ thuật nổi bật và tác dụng trong việc khắc họa cảnh thu.
- Khái quát vẻ đẹp bức tranh thu và cảm xúc, tâm hồn của tác giả.
Gợi ý:
- Bức tranh mùa thu được tái hiện thông qua các hình ảnh, màu sắc
+ Hình ảnh “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”: vẽ được cái cao vút, thăm thẳm của khung trời mùa thu, “cần trúc lơ phơ” tạo nét động cho bức tranh thu. “Hắt hiu”: diễn tả được cái se lạnh của gió mùa thu. Hình ảnh “song thưa để mặc bóng trăng vào” có sự tương phản giữa cái hữu hạn và cái vô hạn.
+ Màu sắc (nước biếc): màu sắc đặc trưng của nước mùa thu.
- Nghệ thuật: so sánh, đảo ngữ, từ láy “lơ phơ”, “hắt hiu”
=> Bức tranh mùa thu với màu sắc thanh đạm, đường nét uyển chuyển, không gian cao rộng, cảnh vật huyền ảo dưới ánh nắng trắng trong, ánh trăng tràn ngập tạo nên một vẻ đẹp thanh cao, gợi cảm của mùa thu vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) bàn về câu nói “Học tập là cuốn vở không có trang cuối”
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài
Giới thiệu và nêu vấn đề cần bàn luận: “Học tập là cuốn vở không có trang cuối”.
2. Thân bài
* Giải thích:
- Học tập: Học và luyện tập để có hiểu biết và kĩ năng.
- Cuốn vở: Ghi chép những hiểu biết trong quá trình học tập.
- Ý cả câu: Học tập là công việc suốt đời, không ngừng nghỉ.
=> Ý nghĩa: Học tập là một quá trình lâu dài, con người cần không ngừng học hỏi, trau dồi tri thức và hoàn thiện bản thân trong suốt cuộc đời.
* Bình luận:
- Học tập là nhu cầu và quá trình tất yếu của con người:
+ Con người từ chỗ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều nhờ học tập và tích lũy kinh nghiệm.
+ Học tập giúp con người hình thành tri thức, kĩ năng và năng lực để thích ứng với cuộc sống.
- Cần học tập suốt đời:
+ Tri thức nhân loại rộng lớn, hiểu biết của mỗi cá nhân luôn có giới hạn.
+ Xã hội và khoa học, công nghệ không ngừng thay đổi → con người cần cập nhật kiến thức.
+ Tinh thần học tập không ngừng được thể hiện qua quan niệm: “Học, học nữa, học mãi”.
- Học tập bằng nhiều hình thức:
+ Học ở trường, từ thầy cô, bạn bè, sách vở.
+ Học qua thực tiễn, trải nghiệm, công nghệ và các nguồn thông tin đáng tin cậy.
+ Quan trọng là biết chọn lọc, vận dụng kiến thức vào thực tế.
* Mở rộng, phản đề:
- Học tập là cuốn vở không trang cuối: Đó là phương châm sống của những người cầu tiến, khát khao vươn tới chiếm lĩnh tri thức nhân loại và biết làm cho cuộc sống của mình có giá trị thực sự.
- Phê phán những người tự bằng lòng với sự hiểu biết của mình, tự mãn, tự phụ hoặc ngại khó, biếng nhác, lười học tập...
- Học tập suốt đời là việc phải làm và cần làm nhưng cũng cần có phương pháp học tập để có kết quả thật tốt.
* Bài học nhận thức
- Nhận thức học tập là nhiệm vụ lâu dài, không chỉ giới hạn trong nhà trường.
- Nắm chắc kiến thức cơ bản, đồng thời chủ động mở rộng hiểu biết.
- Học tập tự giác, chủ động, có kế hoạch, học đi đôi với hành.
- Tận dụng các nguồn học tập: thầy cô, bạn bè, sách vở, thực tiễn, Internet...
- Biết vận dụng những điều đã học vào cuộc sống để biến tri thức thành năng lực thực sự.
3. Kết bài
Khẳng định lại ý nghĩa của câu nói: học tập là hành trình không có điểm dừng.





