Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 10 - Đề số 5
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Tiếng người hay chỉ tiếng chiêm bao?
Có bao giờ bạn mơ thấy một âm thanh, chỉ một âm thanh thôi không hình ảnh. Đó là khi bạn nghe mơ hồ bên tai như có ai đó đang gọi tên mình “A. ơi”, vừa như ngay bên cạnh vừa như xa xôi lắm. Mơ hồ như là một giấc chiêm bao.
Đó là tiếng “ơi” mà lúc nhỏ tôi hay nghe lắm, có ngày nghe đến hàng chục lần. Có khi bà ngoại gọi “A. ơi về ăn cơm”, có khi nghe cậu bạn thân “A. đi câu cá”, có khi là đứa em trai thì thầm vào tai “A. ơi” khi muốn xin xỏ thứ gì. Nhưng cũng có khi là tiếng kêu “…ơi” của mẹ gọi về phát cho mấy cái đũa bếp vào mông vì cái tội ham chơi.
Đã bao lâu rồi, tôi không được nghe tiếng “ơi” ấy.
Những buổi sớm mai của thời thơ ấu, tôi thường bị đánh thức khi trời còn tờ mờ sương, bởi tiếng nước chảy trong trẻo đổ từ gàu vào chiếc thùng thiếc vọng từ ngoài giếng. Rồi những âm thanh đến gần hơn. Ngay dưới bếp thôi. Tiếng nước sôi réo trong ấm, tiếng lửa nổ tanh tách. Tiếng phin cà phê va vào nhau lách cách. Và tôi trở mình trong chăn mơ màng ngủ lại giữa chập chùng những tiếng rì rầm trò chuyện của ba mẹ. Chuyện lúa gạo, chuyện học hành, chuyện chiếc xe bò đang bị hỏng cái bánh xe, chuyện một người quen ở xa mới về…Thảng hoặc pha những tiếng cười rất nhẹ. Đó chính là âm thanh mà tôi yêu thích nhất. Tiếng trò chuyện rì rầm ấy, vào buổi ban mai. Cái âm thanh thủ thỉ, vừa xa vừa gần, tin cậy và tràn đầy yêu thương. Nó khiến tôi thấy lòng hạnh phúc và bình yên vô hạn.
Âm thanh đó, đã bao lâu rồi tôi không còn nghe? Những khi nhớ nhà, tôi thường gửi gắm chiếc headphone lên tai và lắng nghe những giọt âm thanh vô cùng trong trẻo của ban nhạc Secret Garden. Thứ âm thanh nhạc thần kì có thể mang lại cho tôi những hồi tưởng thanh bình êm ả. Nhưng nhiều lúc, âm nhạc dù du dương mấy vẫn không đủ cho tôi. Bởi tôi thèm một âm thanh khác. Âm thanh của tiếng nói con người, âm thanh của ai đó đang gọi tên tôi.
[…]
Có phải chúng ta đang ngày càng ít nói với nhau hơn. Chú ta đang gặp nhau qua YM, tin nhắn, chúng ta đang đọc blog hay những câu status trên Facebook của nhau mỗi ngày, chúng ta những tưởng đã biết hết, hiểu biết về nhau mà không cần thốt lên lời. Có phải vậy chăng? Có phải ta cũng như loài cá heo có thể giao tiếp với nhau bằng sóng siêu âm. Tiếng nói con người dùng để làm gì nếu không phải để thổ lộ, để giãi bày, để xoa dịu. Nếu muốn được hiểu thì phải được lắng nghe. Nếu muốn được lắng nghe thì phải nói trước đã. Vậy thì còn ngần ngừ chi nữa, hãy nói với nhau đi. Nói với ba, với mẹ, với anh chị ,với em, với bạn bè…Đừng chat, đừng email, đừng post lên Facebook, hãy chạy đến gặp nhau, hay ít nhất hãy nhấc điện thoại lên thậm chí chỉ để gọi nhau một tiếng “…ơi” dịu dàng.
Một tiếng người thực sự ân cần, yêu thương, quan tâm, gần gũi …Và chắc chắn, không phải là tiếng chiêm bao.
(Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân,
NXB Hội Nhà văn,2017, tr 129,130,131)
Theo văn bản, những buổi sớm mai của thời thơ ấu, nhân vật “tôi” thường bị đánh thức bởi những âm thanh gì?
Đọc kĩ đoạn văn chứa thông tin trực tiếp; xác định và liệt kê các chi tiết trả lời đúng yêu cầu.
Theo văn bản, những buổi sớm mai của thời thơ ấu, nhân vật tôi thường bị đánh thức bởi những âm thanh:
- Tiếng nước chảy trong trẻo đổ từ gầu vào chiếc thùng thiếc vọng từ ngoài giếng.
- Tiếng nước sôi réo trong ấm, tiếng lửa nổ tanh tách.
- Tiếng phin cà phê va vào nhau lách cách.
- Tiếng rì rầm trò chuyện của ba mẹ.
Xác định luận đề của văn bản
- Xác định vấn đề trung tâm được tác giả bàn luận xuyên suốt văn bản
- Chú ý mối liên hệ giữa các luận điểm, câu hỏi tu từ và lời kêu gọi ở phần cuối.
Luận đề của văn bản là: Sự thiếu vắng và ý nghĩa của việc giao tiếp bằng tiếng nói của con người trong cuộc sống hôm nay.
. Nêu hiệu quả của biện pháp điệp cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn sau:
“Có phải chúng ta đang ngày càng ít nói với nhau hơn. Chú ta đang gặp nhau qua YM, tin nhắn, chúng ta đang đọc blog hay những câu status trên Facebook của nhau mỗi ngày, chúng ta những tưởng đã biết hết, hiểu biết về nhau mà không cần thốt lên lời. Có phải vậy chăng? Có phải ta cũng như loài cá heo có thể giao tiếp với nhau bằng sóng siêu âm.”
- Xác định chính xác cấu trúc được lặp lại.
- Phân tích tác dụng trên ba phương diện: nghệ thuật, nội dung, cảm xúc
- Biện pháp điều cấu trúc được sử dụng trong đoạn văn “Có phải…”
- Tác dụng.
+ Nhấn mạnh thực tế là con người đang ngày càng ít nói trực tiếp với nhau mà lựa chọn giao tiếp qua YM, tin nhắn… và chúng ta tưởng như vậy là đã hiểu hết về nhau.
+ Làm cho đoạn văn có giọng điệu đối thoại, tranh luận, các câu văn được liên kết chặt chẽ.
+ Thể hiện sự trăn trở, suy tư của người viết về thực trạng con người ít giao tiếp với nhau.
Nhận xét về cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản.
Nhận diện cách triển khai luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng và các phương tiện ngôn ngữ biểu cảm; sau đó đánh giá hiệu quả thuyết phục.
- Cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản:
+ Văn bản được triển khai thành hai luận điểm: Niềm khao khát được lắng nghe tiếng nói của con người của nhân vật “tôi”; sự thiếu vắng và ý nghĩa của việc giao tiếp bằng tiếng nói con người. Văn bản có sự kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng; sử dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích, chứng minh, bình luận.
+ Văn bản sử dụng các từ ngữ bộc lộ trực tiếp cảm xúc như: tôi thấy lòng hạnh phúc và bình yên; tình thái từ Có phải vậy chăng ? Và chắc chắn không phải là chiêm bao.
- Nhận xét: Cách lập luận của văn bản chặt chẽ. Hệ thống luận điểm rõ ràng. Lí lẽ thuyết thuyết phục kết hợp với dẫn chứng cụ thể phù hợp. Sử dụng ngôn ngữ biểu cảm hiệu quả vừa làm sáng tỏ được luận điểm của văn bản, vừa thể hiện được thái độ của tác giả.
Nêu nội dung của đoạn văn: “Nếu muốn được hiểu thì phải được lắng nghe. Nếu muốn được lắng nghe thì phải nói trước đã. Vậy thì còn ngần ngừ chi nữa, hãy nói với nhau đi. Nói với ba, với mẹ, với anh chị ,với em, với bạn bè…Đừng chat, đừng email, đừng post lên Facebook, hãy chạy đến gặp nhau, hay ít nhất hãy nhấc điện thoại lên thậm chí chỉ để gọi nhau một tiếng “…ơi” dịu dàng” Nội dung đoạn văn đó có ý nghĩa gì với anh/chị?
- Khái quát thông điệp chính của đoạn trích.
- Liên hệ bản thân
- Nội dung đoạn văn: Nếu muốn được hiểu, chúng ta cần phải lắng nghe người khác. Nếu muốn được lắng nghe, chúng ta cần phải nói chuyện, phải bày tỏ quan điểm, thái độ. Do vậy cần phải mạnh dạn nói chuyện.
-Ý nghĩa:
+ Giúp ta nhận thức được vai trò và mối quan hệ việc lắng nghe và bày tỏ ý kiến của bản thân trong cuộc sống.
+ Từ đó có ý thức học cách lắng nghe và nói chuyện để thấu hiểu, yêu thương bản thân và những người xung quanh.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ ý kiến của anh/chị về cách thức để trở thành một người biết lắng nghe.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ và dẫn chứng từ thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề.
1. Mở đoạn
Giới thiệu vấn đề nghị luận: cách thức để trở thành một người biết lắng nghe.
2. Thân đoạn
- Giải thích: Biết lắng nghe không chỉ là nghe thấy lời người khác nói mà còn là chú tâm tiếp nhận, thấu hiểu nội dung, cảm xúc và nhu cầu của người đối diện với thái độ tôn trọng, không vội phán xét.
- Cách thức để trở thành người biết lắng nghe:
+ Chủ động tập trung khi lắng nghe: Hướng sự chú ý vào người nói, không vừa nghe vừa sử dụng điện thoại, làm việc riêng hoặc suy nghĩ về câu trả lời của mình; không ngắt lời, chen ngang khi người khác chưa nói hết.
+ Lắng nghe bằng sự tôn trọng và cởi mở: Không áp đặt suy nghĩ của bản thân, không vội đánh giá, phủ nhận hay phán xét điều người khác chia sẻ; tôn trọng cả những quan điểm khác biệt với mình.
+ Phản hồi sau khi lắng nghe: Có thể đặt câu hỏi để hiểu rõ hơn, phản hồi chân thành, phù hợp với hoàn cảnh.
3. Kết đoạn
Khẳng định vai trò quan trọng của việc biết lắng nghe người khác.
Rút ra thông điệp phù hợp
Anh/chị viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá bài thơ sau:
Tự miễn
Hồ Chí Minh
Phiên âm
Một hữu đông hàn tiều tuỵ cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng.
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh kiện cường.
Dịch nghĩa:
Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,
Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;
Tai ương rèn luyện ta,
Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.
Dịch thơ:
Tự khuyên mình
Ví không có cảnh đông tàn,
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Nam Trân dịch, Tuyển tập thơ Hồ Chí Minh NXB Văn học, 2008, tr.22)
Chú thích:
Tự khuyên mình được viết bằng chữ Hán, là bài thơ thứ 36 trong tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. Bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam trái phép, khoảng từ 29/8/1942 đến 10/9/1943.
- Xác định mạch cảm xúc và tư tưởng của bài thơ.
- Phân tích ý nghĩa của hình ảnh, từ ngữ, câu thơ, đặc biệt là những hình ảnh mang tính biểu tượng.
- Phân tích nghệ thuật: thể thơ, cấu tứ, ngôn ngữ, hình ảnh, phép đối, tính hàm súc.
- Đánh giá vẻ đẹp con người Hồ Chí Minh và giá trị tư tưởng của tác phẩm.
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Nêu cảm nhận chung, đánh giá khái quát về bài thơ
2. Thân bài
* Phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của bài thơ:
- Nội dung: Bài thơ là lời tự khuyên mình của người tù Hồ Chí Minh: hoàn cảnh khó khăn gian khổ là tiền đề để có ngày mai tươi sáng nếu con người có ý chí nghị lực.
+ Hai câu đầu: Nói về quy luật vận động của đất trời: trải qua mùa đông giá rét mới đến ngày xuân ấm áp, huy hoàng. Hình ảnh “đông hàn” (mùa đông lạnh) tượng trưng cho những khó khăn, nghịch cảnh của cuộc sống; “xuân noãn” (mùa xuân ấm áp) tượng trưng cho thành quả ngọt ngào. Mượn quy luật của đất trời để khái quát quy luật của cuộc sống: khi con người trải qua những khó khăn, gian khổ sẽ gặt hái được những thành công, sẽ có hạnh phúc. Tác giả Nam Trân dịch “xuân noãn đích huy hoàng” thành “cảnh huy hoàng ngày xuân” đã làm nổi bật được niềm vui, niềm hạnh phúc,… mà con người được hưởng sau khi phải đối mặt với vô vàn khó khăn. Hai câu thơ là cái nhìn biện chứng về cuộc sống thể hiện niềm tin, lạc quan, yêu đời
+ Hai câu cuối: Từ quy luật của trời đất, nhân vật trữ tình nghĩ về mình “Tai ương bả ngã lai đoàn luyện”. Hoàn cảnh tai ương mà mình gặp phải sẽ rèn luyện để có “Sử ngã tinh thần cánh kiện cường” (Khiến cho tinh thần ta thêm hăng hái). Bản dịch chưa thật sát nghĩa “Nghĩ mình trong bước gian truân/Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng) làm giảm đi sự tác động của hoàn cảnh lên con người. Hai câu thơ thể hiện tinh thần, ý chí vượt lên nghịch cảnh cuộc đời người cộng sản.
- Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt; ngôn ngữ chọn lọc, hàm xúc “ý tại ngôn ngoại”; cấu tứ giản dị. Bản dịch được sử dụng thể thơ lục bát, dễ thuộc, dễ nhớ.
* Đánh giá:
- Bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người tù Hồ Chí Minh - một con người lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng, có ý chí, tinh thần kiên định, coi thường khó khăn gian khổ. Bài thơ không nói chuyện “thép” nhưng vẫn đầy chất “thép” (tinh thần chiến đấu) tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Chí Minh.
- Bài thơ truyền cho người đọc lẽ sống tốt đẹp, đó là niềm tin cuộc sống, niềm tin vào cái cao đẹp, vào lí tưởng mà mình theo đuổi; là tinh thần sẵn sàng chấp nhận gian khó, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách.
- Mở rộng, so sánh (nếu có): So sánh với các bài thơ khác của Hồ Chí Minh.
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị của “Tự khuyên mình”
- Khẳng định sự thống nhất giữa giá trị tư tưởng sâu sắc và nghệ thuật biểu đạt cô đọng, hàm súc.





