Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 10 - Đề số 3
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Có một câu nói là: “Con đường dài nhất là con đường từ cái đầu đến bàn tay”. Ý tưởng nhiều vô kể. Nhiều người có được ý tưởng rất tốt. Nhưng có rất ít người biến được ý tưởng thành hiện thực. Một người bạn của tôi từng nói: “Khi ai đó tâm sự với tôi về ý tưởng này khác, tôi chỉ bảo: Nghe tuyệt lắm, hãy làm đi. Tôi không bảo khó, bảo sẽ thất bại, hay bàn lùi. Cứ để họ thực hiện. Hành động chứng minh tất cả.”
Nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn có câu: “Trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Nếu không đi thì đường ở đâu mà có.
Cho nên, câu khẩu hiệu của Nike là: “Just do it”. Hãy làm đi. Làm bất cứ điều gì. Vì tuổi trẻ chỉ có một lần. Thời gian trôi qua là không quay trở lại. Thay vì chần chừ, đắn đo, sợ hãi, tại sao không bước ra ngoài và làm điều có ích. Còn nói theo cha ông ta ngày trước thì học đi đôi với hành. Đi học, đọc sách, tiếp thu kiến thức là một chuyện, phải hành động, phải thực hành mới khiến kĩ năng của ta khá lên.
Việc thiếu sót năng lực hành động có thể hạn chế người trẻ hòa nhập vào thế giới. Mà để phát triển khả năng hành động không cần phải làm gì lớn lao, mở nhà trọ hay mở công ty. Chỉ cần bắt đầu từng bước nhỏ một.
Hãy làm gì đó. Đừng ngồi yên”.
(Trích Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?, Rosie Nguyễn, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2018, tr.115)
Xác định vấn đề chính được tác giả đề cập trong văn bản.
- Xác định vấn đề chính dựa vào nhan đề/ý kiến trung tâm, các luận điểm và thông điệp được triển khai xuyên suốt văn bản.
Văn bản bàn về vai trò của hành động trong việc biến ý tưởng, tri thức thành hiện thực
Trong văn bản, tác giả sử dụng các thao tác lập luận nào?
Căn cứ vào mục đích và cách triển khai các luận điểm để nhận diện các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ, so sánh.
Các thao tác lập luận trong văn bản: Giải thích, bình luận, chứng minh.
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Làm bất cứ điều gì. Vì tuổi trẻ chỉ có một lần. Thời gian trôi qua là không quay trở lại. Thay vì chần chừ, đắn đo, sợ hãi, tại sao không bước ra ngoài và làm điều có ích.
- Nhận diện biện pháp tu từ dựa vào hình thức diễn đạt và mục đích biểu đạt
- Nêu tác dụng trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật.
- Biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ: “Thay vì chần chừ, đắn đo, sợ hãi, tại sao không bước ra ngoài và làm điều có ích.”
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh sự cần thiết của việc chủ động hành động, dấn thân và vượt qua tâm lí chần chừ, sợ hãi của tuổi trẻ.
+ Câu hỏi không nhằm tìm kiếm câu trả lời mà có tác dụng thôi thúc, khơi gợi ý thức hành động ở người đọc.
+ Tạo giọng điệu mạnh mẽ, trực tiếp, giàu tính thuyết phục và biểu cảm cho lời văn.
Theo tác giả: Đi học, đọc sách, tiếp thu kiến thức là một chuyện, phải hành động, phải thực hành mới khiến kĩ năng của ta khá lên. Anh/Chị cần chuẩn bị hành trang gì để phát triển bản thân? Vì sao?
Vận dụng kĩ năng đọc hiểu kết hợp liên hệ thực tiễn, trình bày quan điểm cá nhân và lí giải hợp lí, tránh trả lời chung chung.
- Cần chuẩn bị:
+ Tri thức: kiến thức chuyên môn, hiểu biết xã hội, tư duy phản biện và khả năng tự học.
+ Kĩ năng: giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, quản lí thời gian và thích ứng với sự thay đổi.
+ Phẩm chất: tinh thần chủ động, trách nhiệm, kiên trì và dám trải nghiệm.
- Vì: Tri thức tạo nền tảng để con người hiểu đúng, suy nghĩ sâu và đưa ra quyết định phù hợp; kĩ năng giúp biến tri thức thành năng lực thực tế, thích ứng với môi trường học tập, nghề nghiệp và cuộc sống. Tuy nhiên, những hành trang ấy chỉ thực sự phát huy giá trị khi được vận dụng qua hành động và trải nghiệm thực tiễn.
Nêu suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của tác giả trong câu văn: Việc thiếu sót năng lực hành động có thể hạn chế người trẻ hòa nhập vào thế giới.
- Giải thích ngắn gọn ý kiến.
- Đánh giá: đồng tình/không đồng tình hoặc đồng tình ở mức độ phù hợp.
- Lí giải bằng những phương diện cụ thể.
- Rút ra bài học nhận thức và hành động.
- Giải thích: “Năng lực hành động” là khả năng biến kiến thức, suy nghĩ, ý tưởng thành những việc làm cụ thể, phù hợp và hiệu quả. Ý kiến khẳng định nếu chỉ có kiến thức, ý tưởng mà thiếu khả năng hành động, người trẻ sẽ khó thích ứng và khẳng định mình trong cuộc sống.
- Đánh giá: Đây là quan điểm đúng đắn và có ý nghĩa thiết thực.
- Lí giải:
+ Thế giới hiện đại đòi hỏi con người không chỉ biết mà còn phải làm được.
+ Hành động giúp con người kiểm nghiệm kiến thức, tích lũy kinh nghiệm và hình thành năng lực thực tế.
+ Người thiếu năng lực hành động dễ rơi vào tình trạng thụ động, ngại thay đổi, bỏ lỡ cơ hội, khó thích ứng với môi trường học tập, nghề nghiệp và xã hội.
+ Tuy nhiên, hành động cần dựa trên tri thức, sự suy xét và trách nhiệm, tránh hành động nóng vội, thiếu định hướng.
- Bài học: Người trẻ cần chủ động học hỏi, mạnh dạn trải nghiệm, bắt đầu từ những việc nhỏ và kiên trì biến mục tiêu thành hành động cụ thể.
II. VIẾT
Từ nội dung của văn bản trong phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến: Con đường dài nhất là con đường từ cái đầu đến bàn tay.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: khoảng cách giữa suy nghĩ/ý tưởng và hành động thực tế.
- Giải thích hình ảnh “cái đầu” và “bàn tay”.
- Phân tích vai trò của hành động.
- Rút ra bài học nhận thức và hành động.
1. Mở đoạn:
- Nêu vấn đề
- Giới thiệu ý kiến: “Con đường dài nhất là con đường từ cái đầu đến bàn tay.”
2. Thân đoạn:
a. Giải thích ý kiến
- “Cái đầu”: tượng trưng cho suy nghĩ, tri thức, ý tưởng, ước mơ, dự định.
- “Bàn tay”: tượng trưng cho hành động, việc làm cụ thể.
- “Con đường dài nhất”: khoảng cách giữa nghĩ và làm, biết và thực hiện; đây là khoảng cách không dễ vượt qua.
→ Ý kiến nhấn mạnh: Muốn biến ý tưởng, ước mơ thành hiện thực, con người phải hành động.
b. Vì sao cần biến suy nghĩ thành hành động?
- Ý tưởng chỉ có giá trị khi được hiện thực hóa.
- Hành động giúp:
+ Kiểm nghiệm và hoàn thiện ý tưởng.
+ Tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện năng lực.
+ Tạo ra kết quả và giá trị thực tế.
+ Giúp con người tiến gần hơn đến mục tiêu.
+ Đặc biệt với tuổi trẻ, hành động giúp nắm bắt cơ hội, khám phá khả năng và trưởng thành qua trải nghiệm.
c. Điều gì khiến “con đường từ cái đầu đến bàn tay” trở nên dài?
+ Chần chừ, do dự.
+ Sợ thất bại, sợ khó khăn.
+ Thiếu tự tin, thiếu kiên trì.
+ Chỉ thích lập kế hoạch, nói về dự định nhưng không bắt tay thực hiện.
→ Đây là những rào cản khiến ý tưởng mãi chỉ nằm trong suy nghĩ.
d. Bài học nhận thức và hành động
- Mỗi người cần rèn luyện năng lực hành động.
- Với người trẻ: biến ước mơ thành mục tiêu, mục tiêu thành kế hoạch và kế hoạch thành những việc làm cụ thể.
- Bắt đầu từ những việc nhỏ, làm ngay những điều có thể làm và kiên trì theo đuổi mục tiêu.
3. Kết đoạn:
Khẳng định ý nghĩa của câu nói.
Trình bày cảm nhận của anh/chị về hình ảnh tuổi trẻ trong đoạn thơ sau, từ đó nhận xét về sự hi sinh cao cả của lớp thế hệ thanh niên ngày nay.
Tuổi trẻ của tôi
mười tám, hai mươi
trong và tinh khiết như nước suối đá
khỏe và mơn mởn như mầm lá
rộng và dài như mơ ước, yêu thương
vươn lên và bền vững như con đường
gắn vào đất, tạc vào mặt đất
Tuổi trẻ như sao trời mát mắt
khi yên bình hạnh phúc ngước nhìn lên
và cháy bùng như lửa thiêng liêng
khi giặc giã đụng vào bờ cõi
dẫu rụng xuống, vẫn chói lên lần cuối
gọi dậy những lớp người
dẫu rụng xuống, bầu trời không trống trải
trong mắt người sao vân mọc khôn nguôi…
(Trích Con đường của những vì sao, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Trọng Tạo tuyển tập - Thơ và nhạc, Tập một, NXB Văn học, 2019, tr. 549-550)
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ và dẫn chứng từ văn bản tác phẩm để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Nêu vấn đề nghị luận: hình ảnh tuổi trẻ trong đoạn thơ sau, từ đó nhận xét về sự hi sinh cao cả của lớp thế hệ thanh niên ngày nay.
2. Thân bài
a. Hình ảnh tuổi trẻ trong đoạn thơ
* Vẻ đẹp tinh khôi và sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ:
- Tuổi trẻ được ví như “nước suối đá” trong veo, thuần khiết, chưa có gì vẩn đục. Đó là tâm hồn trong sáng, tình cảm chân thành, lý tưởng cao đẹp của lớp người mới lớn.
- Tuổi trẻ “khỏe và mơn mởn như mầm lá” → sự non tơ, tràn nhựa sống, đầy sức bật của tuổi trẻ trước cuộc đời.
- “Rộng và dài như mơ ước, yêu thương”: không gian và chiều dài thời gian của tuổi trẻ chính là những ước mơ và tình cảm rộng lớn, bay bổng.
* Vẻ đẹp của sự hy sinh và trách nhiệm
- Hình ảnh “vươn lên và bền vững như con đường / gắn vào đất, tạc vào mặt đất” cho thấy tuổi trẻ không bay bổng xa rời thực tế. Sự phát triển, vươn lên của họ bắt rễ sâu từ “đất”, từ quê hương, từ hiện thực cuộc sống. Họ sống có trách nhiệm và in dấu ấn của mình vào lịch sử dân tộc.
- Khi yên bình: Tuổi trẻ là “sao trời mát mắt”, là biểu tượng cho vẻ đẹp, niềm tin, là niềm tự hào và tương lai của dân tộc khi đất nước hòa bình.
- Khi có giặc ngoại xâm: Hình ảnh tuổi trẻ chuyển hóa ngoạn mục: “cháy bùng như lửa thiêng liêng”. Sự bình dị, tinh khôi nhường chỗ cho một khí thế hừng hực, một ngọn lửa của lòng yêu nước, của tinh thần quyết chiến quyết thắng.
- Điệp từ “dẫu rụng xuống” và hình ảnh “vẫn chói lên lần cuối” là điểm nhấn đặc biệt cho sự hy sinh bất tử. Cái chết không đánh gục được họ mà ngược lại, nó là khoảnh khắc rực rỡ nhất của ý chí và khí phách.
- Sự hy sinh ấy không phải là dấu chấm hết: “gọi dậy những lớp người”, “bầu trời không trống trải”. Đó là sự bất diệt, là ngọn đuốc được truyền tiếp, là “sao vân mọc khôn nguôi” trong lòng người. Tuổi trẻ đã hóa thân vào lịch sử và bất tử cùng non sông.
* Nghệ thuật
- Thể thơ tự do phóng khoáng như chính sức sống và khát vọng tuổi trẻ.
- Hệ thống so sánh, ẩn dụ giàu sức gợi (nước suối, mầm lá, sao trời, lửa...).
- Điệp cấu trúc “dẫu rụng xuống, vẫn.../gọi...” nhấn mạnh tinh thần bất diệt và ý nghĩa dẫn dắt của thế hệ đi trước.
b. Sự hi sinh cao cả của lớp thế hệ thanh niên ngày nay
- Khẳng định: Sự hy sinh không phải chỉ có trong chiến tranh. Hôm nay, khi đất nước hòa bình, thanh niên vẫn đang hi sinh một cách cao cả trên nhiều mặt trận.
- Biểu hiện:
+ Trên mặt trận kinh tế, khoa học - công nghệ: Họ cống hiến tuổi trẻ, sức khỏe, trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước, làm việc trong những ngành nghề đòi hỏi cao, “ăn bám” thời gian, xa gia đình.
+ Trên mặt trận bảo vệ chủ quyền: Những người lính trẻ hải quân, bộ đội biên phòng ngày đêm canh giữ biển trời, sẵn sàng đối mặt với khó khăn, gian khổ, thậm chí là hiểm nguy (nơi đầu sóng ngọn gió, đảo xa...).
+ Trên mặt trận cộng đồng: Họ là những tình nguyện viên mặc áo xanh, là những chiến sĩ áo trắng, là những nhà khoa học lao vào “tâm dịch”, tâm bão, sẵn sàng đánh đổi sự an toàn của bản thân vì cuộc sống của cộng đồng.
+ Trên mặt trận nhận thức, văn hóa: Họ là những người tiên phong giữ gìn bản sắc, bảo vệ lẽ phải, đấu tranh chống lại các thế lực xấu trên không gian mạng.
=> Họ là hiện thân của một tuổi trẻ vừa hiện đại, dám nghĩ dám làm, vừa luôn “gắn vào đất, tạc vào đất”, viết tiếp những trang sử vàng của dân tộc.
3. Kết bài
- Khái quát lại vẻ đẹp của hình tượng tuổi trẻ trong đoạn thơ: một thế hệ vàng son, sẵn sàng cho đi và cống hiến.
- Khẳng định sự tiếp nối và phát triển của tinh thần ấy trong thế hệ trẻ ngày nay.





